Giới thiệu về xã Nam Sơn

19/06/2019 08:46 Số lượt xem: 0

1. Lịch sử hình thành

Nam Sơn là một “vùng đất địa linh nhân kiệt” của xứ Kinh Bắc cổ kính. Nơi đây còn là ẩn chứa nhiều văn hóa vật thể, phi vật thể và danh lam thắng cảnh. Căn cứ vào hiện vật thu được ở một vài điểm quanh chân núi Dạm thì đất Nam Sơn đã có người đến tụ cư từ thời Hán (thế kỷ I). Qua nhiều cơn binh hỏa, người dân ở đây lưu tán đi các nơi khác làm ăn. Đến khi thanh bình, họ lại về đây sinh sống. Quá trình này diễn ra nhiều lần dưới thời phong kiến. Trải qua nhiều thời kỳ lịch sử, đất Nam Sơn trực thuộc các đơn vị hành chính sau đây:

Thời Hùng Vương thuộc bộ lạc Trâu, thời Hai Bà Trưng (năm 40 - 43) thuộc vùng đất Vũ Ninh. Thời Trần thuộc huyện Vũ Ninh. Từ thời Lê Quang Thuận trực thuộc huyện Quế Dương, phủ Từ Sơn. Đến đầu thời Nguyễn, khi cấp tổng được thành lập, Nam Sơn lúc đó gọi tổng Lãm Sơn Nam, gồm: xã Trung Sơn, xã Lãm Sơn Đông, xã Lãm Sơn Nam, xã Đông Dương và xã Sơn Dương. Đến cuối thời Nguyễn, đất Nam Sơn thuộc huyện Võ Giàng.

Tháng 9 năm 1945, khi nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được thành lập, đơn vị hành chính cấp tổng bị bãi bỏ, các xã Lãm Sơn Trung, Sơn Dương, Lãm Sơn Đông, Lãm Sơn Nam, Đông Dương trực thuộc huyện Võ Giàng. Tháng 9 năm 1946, các xã trên được hợp nhất lại thành một xã, lấy tên là xã Nam Sơn.

Năm 1962 huyện Quế Dương hợp nhất với huyện Võ Giàng, lấy tên là huyện Quế Võ, xã Nam Sơn lúc này trực thuộc huyện Quế Võ gồm các thôn: Triều Thôn; Sơn Trung: xóm Đông và Tây; Thái Bảo: xóm Đình, xóm Chùa, xóm Ngõ Vua. Tại đây có văn chỉ hàng huyện; Sơn Đông có 2 xóm là xóm Trên Và xóm Dưới; Sơn Nam có 2 xóm là xóm Cầu và xóm Diệc. Trên núi của Sơn Nam có văn chỉ hàng tổng; thôn Đông Dương có xóm Mới, xóm Si (xóm có cây si), xóm Giếng (đầu xóm có giếng nước); Đa Cấu: ngày xưa gọi là Vạn Bảo thôn. Sau đó, dân các nơi đến gọi là Đa Cấu (làng được cấu tạo do dân từ nhiều nơi đến); Tự Thôn; Môn Tự (ở cửa chùa).

Thực hiện Nghị định số 60/2007/NĐ-CP ngày 9 tháng 4 năm 2007 của Chính phủ về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Yên Phong, huyện Quế Võ, huyện Tiên Du để mở rộng thành phố Bắc Ninh. Theo đó, toàn bộ diện tích đất tự nhiên và nhân khẩu của xã Nam Sơn được chuyển về thành phố Bắc Ninh. Xã Nam Sơn trực thuộc thành phố Bắc Ninh cho đến ngày nay.

2. Địa giới hành chính

 Xã Nam Sơn nằm ở phía Tây Nam của thành phố Bắc Ninh - Tỉnh Bắc Ninh. Xã có địa giới hành chính như sau:

- Đông giáp xã Phượng Mao, huyện Quế Võ;

- Tây giáp phường Hạp Lĩnh và phường Vân Dương, Thành phố Bắc Ninh;

- Nam giáp xã Yên Giả, huyện Quế Võ và xã Lạc Vệ, huyện Tiên Du;

- Bắc giáp xã Phương Liễu huyện Quế Võ và Phường Vân Dương, Thành phố Bắc Ninh.

3. Chức năng, vai trò của xã Nam Sơn

Nam Sơn là xã nằm phía Tây Nam của thành phố Bắc Ninh, có diện tích tự nhiên 11,92 km2 (1.192,05 ha), dân số 32.659 người. Với lợi thế địa hình, địa chất ổn định và nối liền với vùng trung tâm thành phố cùng với các vùng lân cận và là đầu mối giao thông phía Tây Nam của đô thị Bắc Ninh với tuyến đường Quốc lộ 18, Tỉnh lộ 278 đi qua xã đã được đấu nối với các khu công nghiệp, cụm công nghiệp tạo điều kiện thuận lợi để Nam Sơn phát triển mạnh mẽ thời điểm hiện tại và trong tương lai. Trong những năm qua xã Nam Sơn tranh thủ được sự quan tâm đầu tư của các cấp, doanh nghiệp địa phương và nhân dân trong xã, cùng với chương trình xây dựng Nông thôn mới hệ thống cơ sở hạ tầng, giao thông, văn hóa - xã hội đã được đầu tư đồng bộ và cải thiện rõ rệt đồng thời đẩy nhanh tốc độ đô thị hoá, đáp ứng tiêu chuẩn đô thị. Trong định hướng phát triển Quy hoạch chung đô thị Bắc Ninh đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, xã Nam Sơn nằm trong phân khu đô thị Nam Sơn: Là đô thị sinh thái - đào tạo - khoa học kỹ thuật; trung tâm kinh tế tri thức của đô thị Bắc Ninh, gắn kết với thiên nhiên với mục tiêu xây dựng tập trung các cơ quan nghiên cứu phát triển khoa học kỹ thuật tiên tiến, thu hút các trường Đại học cấp quốc gia, trường Đại học quốc tế... Hiện nay, Nam Sơn đã góp phần chung cho sự phát triển của thành phố về công nghiệp, thương mại - dịch vụ và sẽ phát huy hơn nữa về kinh tế - xã hội với tiềm năng và định hướng, trong tương lai.

4. Diện tích tự nhiên và cơ cấu các loại đất

Xã Nam sơn có 11.92 km² (1.192,05 ha) diện tích đất tự nhiên. Trong đó, cơ cấu các loại đất như sau:

  • Diện tích đất nông nghiệp: 709,40 ha, chiếm tỷ lệ 59.51%;
  • Diện tích đất phi nông nghiệp: 480,48 ha, chiếm tỷ lệ 40.31%;

- Diện tích đất chưa sử dụng: 2,17 ha, chiếm tỷ lệ 0.18%.

5. Dân số và cơ cấu thành phần dân cư

Tính đến ngày 31/12/2018, toàn xã có 32.659 người (đã bao gồm dân số quy đổi). Mật độ dân số 2739 người/ km². Toàn xã có 9 thôn với các tên gọi như sau: Thôn Chiều Thôn, Đa Cấu, Đông Dương, Môn Tự, Sơn Nam, Sơn Trung, Thái Bảo và thôn Tự Thôn. Tỷ lệ tăng dân số trung bình hàng năm: 1,65%

Tổng số người lao động trong các ngành kinh tế là 21.184 người, trong đó:

  • Lao động nông nghiệp: 1.327 người, chiếm 6,26%;
  • Lao động phi nông nghiệp: 19.857 người, chiếm 93,74%.

6. Tình hình phát triển kinh tế - xã hội                                         

6.1. Tình hình phát triển kinh tế

 Tổng giá trị sản xuất năm 2018 toàn xã đạt 13.088,9 tỷ đồng, tăng 14.19% so với năm 2017. Trong đó:

+ Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng:10.863,8 tỷ đồng, chiếm 83%;

+ Dịch vụ, thương mại, tiểu thủ công nghệp: 1.439,8 tỷ đồng, chiếm 11%;

+ Nông, lâm ngư nghiệp: 785.3 tỷ đồng, chiếm 6%.

Về công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng: tổng giá trị sản xuất năm 2018 đạt 10.863,8 tỷ đồng, chiếm 83%, tăng 15,3% so với năm 2017 là 1.443,3 tỷ đồng. Sản xuất tiểu thủ công nghiệp, xây dựng trên địa bàn tiếp tục phát triển với 825 hộ sản xuất, kinh doanh cơ khí, sửa chữa xe máy, xe đạp, các dịch vụ thương nghiệp; dịch vụ vận tải có 122 ô tô, máy múc, các loại máy cày kéo, tuốt lúa, phục vụ cho sản xuất và vận chuyển hàng hoá. Trong năm xã đã hoàn thiện điều chỉnh các công trình đầu tư công trung dài hạn giai đoạn 2018 - 2022,

Dịch vụ, thương mại: tổng giá trị sản xuất năm 2018 đạt 1.439,8 tỷ đồng, chiếm 11%, tăng 15,3% so với năm 2017 là 187,6 tỷ đồng Hoạt động thương mại - dịch vụ trên địa bàn xã tiếp tục phát triển cả về quy mô và chất lượng, từng bước đi vào hoạt động ổn định.  Khu di tích lịch sử tâm linh chùa Dạm thu hút lượng lớn du khách thập phương đến dâng hương, tham quan chiêm bái, mua sắm, đặc biệt là dịp đầu xuân năm mới và lễ hội góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, và nâng cao thu nhập người dân địa phương.

Nông, lâm, ngư nghiệp: tổng giá trị sản xuất năm 2018 đạt 785,3 tỷ đồng, chiếm 6%, tăng 0,7% so với năm 2017 là 5,5 tỷ đồng. Diện tích gieo trồng đạt 626,5 ha, tăng 1,4 ha so với cùng kỳ, đạt kết quả cao so với kế hoạch.

6.2. Tình hình phát triển văn hóa xã hội

a) Về lĩnh vực văn hóa, thể dục thể thao   

 Phong trào văn hóa, thể dục thể thao luôn đư­ợc phát huy trong các ngày lễ, ngày tết. Phối hợp với các ban ngành, đoàn thể triển khai, tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục - thể thao trên địa bàn; triển khai, thực hiện việc xây dựng đời sống văn hóa ở cộng đồng dân cư và xây dựng gia đình văn hóa trên địa bàn xã; duy trì việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc tổ chức tiệc cưới, việc tang và tổ chức lễ hội.

Hệ thống truyền thanh của xã thường xuyên tu sửa, khắc phục các sự cố, duy trì đều đặn chương trình phát thanh,

b) Về giáo dục - đào tạo

Các trường trên địa bàn luôn đi đầu trong công tác giáo dục với những thành tích nổi bật về học tập, rèn luyện và giữ vững đạt chuẩn Quốc gia. Đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên các trường luôn cố gắng duy trì, phát triển và không ngừng nâng cao, đổi mới việc dạy và học. Cơ sở vật chất thường xuyên được đầu tư xây dựng kiên cố với đầy đủ trang thiết bị nhằm đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng dạy và học.

c) Về lĩnh vực y tế

Thực hiện tốt chương trình y tế Quốc gia, thường xuyên nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân. Duy trì giữ vững Bộ tiêu chí Quốc gia về y tế xã giai đoạn đến năm 2020.

Xã có 1 trạm y tế diện tích 1.400 m2, 5 giường, 4 cán bộ y tế. Trong những năm qua, trạm y tế đã thực hiện tốt công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu và các chương trình mục tiêu Quốc gia về y tế. d) Công tác chính sách xã hội, giải quyết việc làm

Thực hiện nghiêm túc, kịp thời và đúng đối tượng chính sách xã hội theo quy định. Quan tâm, động viên, thăm hỏi thường xuyên các gia đình chính sách, người có công và các gia đình đặc biệt khó khăn trong các dịp lễ, tết. Vận động các tổ chức chính trị, xã hội, các doanh nghiệp hỗ trợ các đối tượng chính sách xã hội trong dịp tết cổ truyền; chế độ ưu đãi học sinh, sinh viên, người nghèo được chi trả kịp thời và đúng mức.

Các chế độ chính sách đối với người có công với Cách mạng, đối tượng bảo trợ xã hội và hộ nghèo được thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng quy định.  

Công tác chăm sóc, giáo dục trẻ em luôn được chú trọng, báo cáo các cấp động viên, tặng quà kịp thời cho các trẻ em, học sinh có hoàn cảnh khó khăn nhân dịp tết thiếu nhi 1/6, tết trung thu.  Công tác chi trả các chế độ BHXH, BHYT, bảo hiểm tự nguyện được thực hiện kịp thời, đúng quy định. Triển khai thực hiện giao dịch điện tử trong thủ tục tham gia BHXH, BHYT.

Công tác giải quyết việc làm, giảm nghèo được chú trọng quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi cho các trường hợp có nhu cầu đi xuất khẩu lao động. Phối hợp với phòng chuyên môn của thành phố điều tra cơ sở dữ liệu thị trường lao động. Thực hiện các bước trong quy trình tổng điều tra hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2018 theo chuẩn đa chiều giai đoạn 2016-2020. Đồng thời, tiếp tục rà soát, hỗ trợ và phấn đấu năm 2019 giảm tối thiểu  hộ nghèo trên địa bàn. Quan tâm và giải quyết việc làm cho lao động, phối hợp cùng các công ty, cơ sở sản xuất kinh doanh đóng trên địa bàn xã, các khu công nghiệp tạo điều kiện để nhân dân làm việc, góp phần giải quyết nguồn lao động thiếu việc làm. Ngoài ra xã còn tạo mọi điều kiện để số hộ nghèo được vay vốn phát triển kinh tế, năm 2018 giảm tỷ lệ hộ nghèo còn 0,83%, so với năm 2017 giảm 0,7%.

7. Tình hình phát triển cơ sở hạ tầng

7.1. Về hạ tầng giao thông

Mạng lưới giao thông đô thị đã được quy hoạch, xây dựng gồm 02 tuyến đường Tỉnh lộ (đường 278 mới và 278 cũ), 02 tuyến đường liên xã gồm đường từ 278 đi Yên Giả, đường từ đường 278 qua Triều Thôn đi Vân Dương, với tổng chiều dài là 13km; đường trục thôn với tổng chiều dài 18.948km.Với mật độ đường giao thông chính: 2,4 km2 nhằm phục vụ tích cực đời sống nhân dân trong việc lưu thông hàng hóa, các hoạt động sản xuất, phát triển kinh tế.

7.2. Về điện

Hệ thống điện chiếu sáng của xã có 19 trạm biến áp. Hệ thống điện thường xuyên được kiểm tra, khắc phục khó khăn, đầu tư xây dựng các trạm biến áp, thay thế đường dây, đảm bảo việc cấp điện phục vụ nhu cầu sản xuất, phát triển kinh doanh, chiếu sáng và đời sống của người dân, cũng như giảm tỷ lệ thất thoát điện. Số hộ dân sử dụng điện và dùng điện kế chính đạt 100%; sản lượng điện phục vụ sinh hoạt năm 2018 là 30.541.866 Kwh. Tỷ lệ đường phố chính được chiếu sáng đạt 100%.

7.3. Về cấp thoát nước

Trên địa bàn xã tỷ lệ số hộ sử dụng nước hợp vệ sinh đạt 100%, nguồn nước phục vụ sản xuất kinh doanh và sinh hoạt chủ yếu sử dụng nước máy do Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên cấp nước Bắc Ninh cung cấp.

Các cơ sở sản xuất, kinh doanh, chăn nuôi trên địa bàn xã đạt 100% tiêu chuẩn hợp vệ sinh, tỷ lệ hộ dân có đủ 3 công trình (bể nước, nhà tắm, nhà vệ sinh) đạt tỷ lệ cao. Các hộ gia đình có nhà vệ sinh, nhà tắm đạt tiêu chuẩn và xử lý đảm bảo quy định, không gây ô nhiễm nguồn nước xung quanh. Ngoài ra, xã có 01 nhà máy sử lý nước thải sinh hoạt tại khu công nghiệp Quế Võ và sử dụng nhà máy xử lý nước thải chung của thành phố tại xã Kim Chân.

7.4. Về viễn thông

Xã có 01 trạm bưu điện thuộc công ty Bưu chính Viễn thông Bắc NInh; mạng điện thoại di động, mạng điện thoại cố định, truyền hình số, mật độ thuê bao internet đạt … thuê bao/100 dân, tỷ lệ phủ sóng thông tin di động trên dân số là 100%, đáp ứng tốt mọi nhu cầu thông tin liên lạc của nhân dân.

7.5. Về vệ sinh môi trường

Ủy ban nhân dân xã thường xuyên đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ môi trường. Hàng tháng, chính quyền và các đoàn thể thường xuyên phát động phong trào vệ sinh đường làng, ngõ xóm sạch, đẹp.

8. An ninh – Quốc Phòng

8.1. An Ninh

Tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội cơ bản ổn định. Hằng năm, thực hiện tốt kế hoạch phòng chống tội phạm, tệ nạn xã hội, phòng chống thiên tai lũ lụt... Tổ an ninh, tổ hoà giải khu dân cư được cũng cố thường xuyên nhằm giải quyết tại chỗ những vấn đề an ninh thôn xóm, giữ gìn sự đoàn kết nhất trí trong nhân dân. Trên địa bàn xã có các lực lượng: Dự bị động viên, Dân quân tự vệ cơ động và tại chỗ, tiềm lực đảm bảo quốc phòng, an ninh vững mạnh.

8.2. Quốc phòng

Ban chỉ huy quân sự xã đã xây dựng đầy đủ kế hoạch và huấn luyện dân quân năm 2018. Tổ chức diễn tập, chuẩn bị các kế hoạch, lực lượng tham gia ứng cứu các tình huống có thể xẩy ra như cháy rừng, phòng chống lụt bão, cứu hộ, cứu nạn luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Hoàn thành chỉ tiêu giao quân đạt 100%, xây dựng kế hoạch tiến hành sơ khám tuyển nghĩa vụ quân sự đợt 1/2018 theo đúng Luật nghĩa vụ quân sự. Phối kết hợp với ban Công an xã, các ban, ngành, đoàn thể bảo vệ các hoạt động trong những ngày lễ, tết, các sự kiện chính trị của trung ương và của địa phương.

Nguồn: UBND xã Nam Sơn