Di tích lịch sử xã Nam Sơn

19/06/2019 08:17 Số lượt xem: 0

Di tích thôn Đa Cấu

- Lịch sử hình thành

Đình làng Đa Cấu hiện nay là công trình văn hóa tín ngưỡng của nhân dân địa phương vốn được khởi dựng từ lâu đời với quy mô to lớn để thờ các vị thành hoàng làng. Trải qua trường kỳ của lịch sử, đặc biệt là trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp tháng 8 năm 1949, ngôi đình đã tiêu thổ kháng chiến. Năm 1991 được sự quan tâm của Đảng, chính quyền và nhân dân địa phương, ngôi đình đã được phục dựng lại trên nền xưa đất cũ. Năm 2016 xây dựng mới lại đình trên vị trí nền xưa đất cũ do công ty Kinh Bắc tài trợ 4 tỷ đồng.

- Cảnh quan môi trường, đất đai.

Đình làng Đa Cấu tọa lạc trên một khu đất có diện tích 949 m2, bằng phẳng, bên cạnh là nhà văn hóa thôn, mặt quay hướng Đông Bắc, xung quanh là khu dân cư đông đúc.

- công trình kiến trúc

Đình quay theo hướng Đông Bắc, có bình đồ kiến trúc kiểu chữ Đinh gồm Đại đình 3 gian 2 chái 4 mái đao cong và 3 gian Hậu Cung. Đình toạ lạc trên thế đất đẹp, đình Đa Cấu nằm dưới núi con Phượng thuộc dãy Đại Lãm Sơn, đây là 1 trong 4 dãy núi tứ linh của vùng đất Nam Sơn. Bộ khung chịu lực làm bằng gỗ lim to chắc khỏe, vì nóc kiểu "chồng rường giá chiêng", vì nách kiểu “chồng rường giá chiêng”. Cả hai toà đều thể hiện chung một phong cách kiến trúc nhưng nghệ thuật trang trí chạm khắc chỉ tập trung chủ yếu ở toà Đại đình, trên các bộ phận đầu dư, xà, cốn, bẩy, đề tài “tứ linh”, “tứ quý”,

- Nhân vật được thờ

Đình Đa Cấu thờ Thành Hoàng làng là Ngũ Vị Đại Vương và tướng công Nguyễn Công Cự có công đánh giặc Chiêm Thành. Thần phả ghi chép về Ngũ vị đại vương có công âm phù tướng quân Nguyễn Công Cự đánh giặc Chiêm Thành,

- Các hiện vật tiêu biểu.             

01 bia đá “Ký kỵ bia ký” năm 1822

01 bia tượng Hậu thời Lê

2. Di tích đình Đông Dương

- Lịch sử hình thành

Đình Đông Dương vốn được khởi dựng từ lâu đời nguyên xưa vị trí làm đình là ruộng được tân lên. Trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp, thực hiện chủ trương tiêu thổ kháng chiến, năm 1949 - 1950, ngôi đình đã bị hạ giải hoàn toàn. Thời kỳ Hợp tác xã, vị trí của đình trở thành khu chứa thức ăn chăn nuôi. Năm 1987, nhân dân địa phương khôi phục lại việc thờ tự Thành Hoàng làng tại 1 gian nhỏ tại vị trí này. Năm 2004, với nguyện vọng có nơi thờ tự Thành hoàng làng khang trang tố hảo, nhân dân địa phương đã góp công, góp của khôi phục lại Đình Đông Dương.

- Cảnh quan môi trường, đất đai.

Đình Đông Dương tọa lạc trên khu đất đẹp tổng diện tích là 2998,3 m2, thế đất bằng phẳng, trước mặt là cánh đồng bát ngát, phía xa có núi Rùa làm án. Đình quay mặt hướng Tây – Nam. Di tích Đình Đông Dương cùng với cảnh quan xung quanh tạo thành một không gian hài hòa, thuần chất làng quê đồng bằng Bắc Bộ.

- công trình kiến trúc

Đình Đông Dương gồm các công trình kiến trúc: Nghi môn nằm sát đường trục thôn. Liền kề sân đình là tòa Đại đình và Hậu cung được nối liền với nhau tạo thành mặt bằng kiến trúc hình chữ Đinh, phía bên phải có nhà Tạo soạn. Đại đình gồm 5 gian 2 chái làm theo kiểu “4 mái đao cong”. Kết cấu hệ chịu lực (hệ vì) được làm bằng bê tông cốt thép với 6 bộ vì, mỗi bộ vì có 6 hàng chân cột, kết cấu tương tự nhau kiểu “Thượng chồng rường giá chiêng, hạ chồng rường bảy hiên. Trang trí kiến trúc tập trung tại các con chồng, câu đầu, đấu kê, kẻ hiên, đầu dư...với các đề tài: rồng, lá lật, chữ Thọ. Các thành phần còn lại để trơn, không trang trí. Hậu cung có kết cấu kiến trúc kiểu “chồng diêm 2 tầng 4 mái”. Hậu cung có 3 bộ vì tạo thành 2 gian 1 dĩ, mỗi bộ vì có 2 hàng chân cột, kết cấu như sau: vì nóc kiểu “chồng rường” nằm trên 2 cột trốn đặt trên quá giang gác lên hai cột quân, đỡ tầng mái trên. Vì nách kiểu “kẻ ngồi”, xà nách gác tường bao đỡ mái dưới.

- Nhân vật được thờ

Đình Đông Dương thờ Thành Hoàng làng là Ngũ Vị Đại Vương và tướng công Nguyễn Công Cự có công đánh giặc Chiêm Thành. Thần phả ghi chép về Ngũ vị đại vương có công âm phù tướng quân Nguyễn Công Cự đánh giặc Chiêm Thành,

- Các hiện vật tiêu biểu.: 01 ngai thờ thời Nguyễn.

Hiện tại di tích các đồ thờ tự như : ngai, bài vị, hoành phi, câu đối, hương án, long đình, kiệu bát cống, hoành phi, câu đối, bát hương, bát biểu… đều là hiện vật mới bổ sung có niên đại thế kỷ XX- XXI.

2.2. Chùa Đông Dương

- Lịch sử hình thành

Chùa Đông Dương khởi dựng từ lâu đời và bị phá hủy trong kháng chiến chống Pháp và được xây dựng lại năm 1996 trên nền xưa đất cũ. Năm 2000-2003 tu sửa lại, thay thế các bộ phận bị mối một hỏng hóc. Năm 2008 làm lại chùa trên vị trí nền xưa đất cũ do công ty Kinh Bắc tài trợ là gần 5 tỷ đồng.

- Cảnh quan môi trường, đất đai.

Chùa Đông Dương tọa lạc trên khu đất có diện tích đất 180m2, đất đã có hồ sơ giải thửa. Chùa nằm ở vị trí cạnh đình, mặt quay hướng Nam, đằng sau là giáp ruộng, đường làng, còn lại giáp khu dân cư. Tổng thể các công trình kiến trúc và khuôn viên nhỏ bé được tu tạo nên khang trang, sạch đẹp.

- Các công trình kiến trúc

 Tòa Tam bảo có kết cấu theo kiểu chữ Đinh gồm 5 gian 2 mái cột trụ lồng đèn, trên đỉnh mái đắp 3 chữ Hán “Đông Dương tự”. 5 gian Tiền đường và 3 gian Thượng điện. Bộ khung chịu lực bằng gỗ lim to chắc khỏe, kết cấu vì nóc kiểu “chồng rường giá chiêng”, nền lát gạch vuông.

- Nhân vật được thờ

  1. hùa Đông Dương được khởi dựng từ  từ lâu đời để thờ Phật, thờ Mẫu, thờ Tổ là trung tâm sinh hoạt tôn giáo đạo Phật của nhân dân địa phương.

- Các hiện vật tiêu biểu.

Hiện chùa mới được xây dựng xong, hệ thống tượng thờ, các đồ thờ tự mới đang làm chưa mang về chùa để đặt vào các vị trí.

3 Đình Môn Tự

- Lịch sử hình thành

Nguyên xưa, di tích Đình Môn Tự vốn có quy mô to lớn, xưa gồm các công trình:  Tam môn, hai bên có Tả vu, Hữu vu, mỗi tòa 3 gian. Đại đình 5 gian làm bằng gỗ lim Phía sau là Hậu cung 3 gian tạo thành mặt bằng kiến trúc hình chữ Đinh.Trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp (1946 -1954), ngôi đình bị tiêu thổ chỉ còn lại 3 gian Hậu cung, sau rồi cũng bị phá hủy hoàn toàn.

Trong thời kỳ hợp tác xã, nhân dân có dựng tạm ngôi nhà 3 gian, mái lợp rơm để làm nơi thờ phụng Đức Thánh. Đến những năm 1980, ngôi nhà 3 gian cũng bị phá hủy hoàn toàn. Năm 1999, với nguyện vọng có nơi thờ tự Thành hoàng làng khang trang, nhân dân địa phương đã góp công, góp của để khôi phục lại Đình Môn Tự trên nền  xưa đất cũ. Năm 2014, xây dựng Tam môn, tường bao khuôn viên, lát sân, đảo lại mái đình.

- Cảnh quan môi trường, đất đai.

Đình Môn Tự tọa lạc trên khu đất đẹp với tổng diện tích đất là 560 m2, dưới chân núi Dạm, phía trước là cánh đồng rộng bát ngát, xa xa là núi Con Quy và dòng sông Đuống uốn quanh. Đình quay mặt hướng Tây - Nam. Di tích Đình Môn Tự cùng với cảnh quan xung quanh tạo thành một không gian hài hòa, thuần chất làng quê đồng bằng Bắc Bộ.

- công trình kiến trúc

Hiện nay đình Môn Tự bao gồm các công trình kiến trúc: Nghi môn, tòa Đại đình và Hậu cung được nối liền với nhau tạo thành mặt bằng kiến trúc hình chữ Đinh.

- Nhân vật được thờ

Đức vua Lý Nhân Tông – vị vua thứ tư của triều Lý. Ngài là bậc vua anh minh với những quyết sách để đất nước hưng thịnh, nhân dân no ấm. Những công lao to lớn của Ngài đã đóng góp vào quá trình phát triển của triều Lý và lịch sử dân tộc Việt Nam.

Lai lịch và công trạng của các Ngài được tóm lược như sau:

Lý Nhân Tông tên thật là Lý Càn Đức, sinh ngày 25 tháng Giêng năm 1066 là con trưởng của vua Lý Thánh Tông và Nguyên Phi Ỷ Lan. Ông trị vì Đại Việt từ năm 1072 đến năm 1128, tổng cộng 56 năm.

- Các hiện vật tiêu biểu.

01 bia “Bản đình phụng sự” tạo tác năm 1764

01 bia “Sáng lập hậu thần bi” khắc dựng thời Lê Trung Hưng

Ngoài ra còn có tượng bà Nguyên Phi Ỷ Lan, tượng Đức vua Lý Nhân Tông, hoành phi, câu đối, hương án, siêu đao, bát biểu...hiện vật mới có niên đại thế kỷ XX- XXI.

4. Chùa Sơn Trung (Kim Cương tự)

- Lịch sử hình thành

Chùa làng Sơn Trung vốn được khởi dựng từ thời Nguyễn nhưng bị tàn phá trong kháng chiến chống Pháp. Năm 1997 nhân dân xây dựng ngôi chùa mới làm nơi thờ phật.

 Chùa chưa xếp  hạng

- Cảnh quan môi trường, đất đai.

Chùa hiện tọa lạc giữa trung tâm làng. Mặt quay hướng Nam, phía trước là khoảng sân rộng, 2 bên là khu dân cư đông đúc.

- Các công trình kiến trúc.

Chùa có bình đồ kiến trúc kiểu chữ Đinh 5 gian 2 mái cột trụ lồng đèn. Bộ khung gỗ chịu lực: gồm Tiền đường 3 gian 2 dĩ và 3 Thượng điện. Kết cấu vì nóc kiểu “con chồng giá chiêng”. Trên các con rường, kẻ chạm khắc hoa lá cách điệu. Phía sau là 3 gian nhà Mẫu, 5 gian nhà khách, 3 gian nhà tạo soạn, 3 gian nhà Tăng nữ Trong khuôn viên chùa có 3 tháp cổ.

- Nhân vật được thờ

Giống như tất cả các ngôi chùa khác, chùa Sơn Trung được khởi dựng từ lâu đời để thờ Phật, thờ Mẫu, thờ các vị tổ sư là trung tâm sinh hoạt tôn giáo đạo Phật của nhân dân địa phương.

- Các hiện vật tiêu biểu.

03 tượng tam thế, bộ tượng Ngọc Hoàng, Nam Tào, Bắc Đẩu, tượng Đức Ông, tượng Thánh Tăng, tượng Thánh Mẫu có niên đại thế kỷ XX.

5. Đình Sơn Nam

- Lịch sử hình thành

Theo các cụ cao niên cho biết đình làng Sơn Nam khởi dựng từ lâu đời. Nhưng bị phá hủy hoàn toàn trong kháng chiến chống thực dân Pháp. Năm 1996 trên nền móng cũ nhân dân địa phương xây dựng lại ngôi đình mới.

Xếp hạng di tích cấp tỉnh năm 2014

- Cảnh quan môi trường, đất đai.

Đình Sơn Nam hiện được tọa lạc trên diện tích đất 990,0 m2 đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đình nằm ở vị trí trung tâm của thôn, mặt quay hướng  Nam, phía trước là ao đình, xung quanh là khu dân cư đông đúc

- công trình kiến trúc

Công trình gồm 2 tòa Đại đình 5 gian kiểu bình đầu bít đốc cột trụ cánh phong và Hậu cung 3 gian, kết cấu kiến trúc kiểu chữ Nhị, bộ khung làm bằng gỗ xoan, kết cấu vì nóc kiểu “thượng chồng rường hạ kẻ chuyền”. Trên câu đầu, con rường, kẻ, soi gờ chỉ bào trơn đóng bén.

- Nhân vật được thờ

 Đình thờ Đức vua Lý Nhân Tông và bà Nguyên Phi Ỷ Lan

Lai lịch và công trạng của các Ngài được tóm lược như sau:

Lý Nhân Tông tên thật là Lý Càn Đức, sinh ngày 25 tháng Giêng năm 1066 là con trưởng của vua Lý Thánh Tông và Nguyên Phi Ỷ Lan. Ông trị vì Đại Việt từ năm 1072 đến năm 1128, tổng cộng 56 năm.

- Các hiện vật tiêu biểu.

02 bia đá, dựng năm 1889 và 1911

Ngoài ra còn có  tượng Đức vua Lý Nhân Tông, hoành phi, câu đối, hương án, siêu đao, bát biểu, Hạc thờ, ...hiện vật mới có niên đại thế kỷ XX.

Di sản văn hóa phi vật thể gắn với di tích

6. Di tích thôn Triều Thôn

6.1. Đình Triều Thôn

- Lịch sử hình thành

 Theo các cụ cao niên cho biết ngôi đình được khởi dựng từ lâu đời để thờ thành hoàng. Ngôi đình được xây dựng lại năm 1992 trên vị trí nền xưa đất cũ thay thế ngôi đình cổ đã bị phá huỷ trong kháng chiến chống Pháp. Năm 2003 trùng tu tôn tạo lại toàn bộ lại đình.

 Đình làng Triều Thôn được UBND tỉnh xếp hạng di tích lịch sử văn hoá - Quyết định số 110/1998/QĐ-UB ngày 31/12/1998.

- Cảnh quan môi trường, đất đai.

Đình Triều Thôn hiện được tọa lạc trên diện tích đất 1375m2 đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đình nằm trong khuôn viên cùng đền ở vị trí trung tâm của thôn, mặt quay hướng Tây, phía trước là cánh đồng xanh tốt, xung quanh là khu dân cư đông đúc

- Các công trình kiến trúc

Đình có bình đồ kiến trúc kiểu chữ Đinh gồm 2 tòa Đại và Hậu cung. Đại đình 3 gian 2 chái 4 mái đao cong. Bộ khung chịu lực làm bằng khung gỗ liên kết vì nóc theo kiểu “chồng rường giá chiêng” vì nách “chồng rường” trên các con rường có trang trí hoa văn rồng, mây, hoa lá... Hậu cung gồm 2 gian làm theo kiểu chồng diêm 2 tầng 8 mái. Hệ thống cửa thượng song hạ bản mở 3 gian giữa, hai hồi xây tường kín có trổ cửa sổ nhỏ kiểu chữ Thọ tròn.

- Nhân vật được thờ

Đình thờ Đông Hải Đại Vương (Đoàn Thượng), vị tướng có công đánh giặc Chiêm Thành vào thời nhà Lý và Nguyễn Lân Công là vị thiên thần giáng lâm âm phù giúp tướng quân Nguyễn Công Cự triều Lý đánh giặc Chiêm Thành.

- Các hiện vật tiêu biểu.             

05 sắc phong thời Nguyễn có niên đại 1857, 1887, 1910, 1924 (2 đạo), 04 kiếm thờ thời Nguyễn.

Ngoài ra còn các đồ thờ tự như: 01 Biển lịch triều phong tặng, án gian, 01 Hoành phi, 02 câu đối, 01 đỉnh hương là hiện vật có niên đại thế kỷ XX.

6.2. Đền Triều Thôn

- Lịch sử hình thành

Hiện Đền nằm trong quần thể kiến trúc văn hóa tín ngưỡng của làng, ngôi đền được xây dựng từ lâu đời nhưng đã bị phá hủy do chiến tranh và thiên tai. Những năm gần đây, nhân dân khôi phục lại đền.

Đền làng Triều Thôn được UBND tỉnh xếp hạng di tích lịch sử văn hoá - Quyết định số 110/1998/QĐ-UB ngày 31/12/1998.

- Cảnh quan môi trường, đất đai.

Đền Triều Thôn hiện được tọa lạc trên diện tích đất 1375m2 đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đền  nằm trong khuôn viên cùng đình ở vị trí trung tâm của làng, mặt quay hướng Nam, phía trước là cánh đồng xanh tốt, xung quanh là khu dân cư đông đúc

- công trình kiến trúc

Đền Triều Thôn có kết cấu kiến trúc hình chữ Nhị gồm 2 tòa 5 gian Tiền tế và 3 gian Hậu cung với bộ khung gỗ lim, kết cấu vì nóc kiểu “con chồng giá chiêng”, quá giang gác tường. Trên các con rường bào trơn đóng bén kỹ lưỡng, không chạm khắc mang phong cách thời Nguyễn

- Nhân vật được thờ

Thần tích và Sắc phong còn lưu lại ở đền cho biết, đền thờ Tam Vị Đại Vương: Đương Cảnh Thành hoàng đệ nhất vị Bình Khấu Thượng Tướng quân, húy Hồng, họ Nguyễn, tự Anh uy Thượng đẳng thần Đại Vương; Đệ nhị vị Bình Khấu Thượng tướng quân, húy Tĩnh, tự Hùng vũ Thượng đẳng thần Đại Vương; Đệ tam vị Bình Khấu Thượng tướng quân, húy Tuấn, tự Tú Chung Thượng đẳng thần Đại Vương - có công đánh giặc Chiêm Thành - thời Lý.

- Các hiện vật tiêu biểu.

01 bản thần tích, 01 sắc phong Khải Định 9 (1924), 01 ống đựng sắc thế kỷ XIX, 01 ống quyển thế kỷ XIX, 01 bát hương xành thế kỷ XIX,

01 ngai thờ, 01 bài vị thế kỷ XX.

- Di sản văn hóa phi vật thể gắn với di tích

 Đền không có lễ hội truyền thống riêng. Ngày 7 tháng 7 ngày sinh thánh. Ngày 13 tháng 11 ngày hóa thánh vào các ngày này ban khánh tiết cùng nhân dân thôn xóm sắm sửa lễ vật tế thánh. Ngoài ra vào các ngày tuần rằm mồng một, các dịp lễ, tết nguyên đán nhân dân địa phương tới đền  cầu mong điều tốt đẹp cho gia đình

6.3. Chùa Triều Thôn (Kim Cương tự)

- Lịch sử hình thành

Chùa Triều Thôn vốn được xây dựng từ lâu đời, nhưng bị tàn phá trong chiến tranh. Chùa hiện nay được xây dựng lại năm 1995, trên bờ nóc có bức đại tự “Kim Cương tự”. Năm 2003 trùng tu lại Tiền đường và Thượng Điện.

Chưa được xếp hạng

- Cảnh quan môi trường, đất đai.

Chùa Triều Thôn hiện tọa lạc phía Tây Bắc của làng với địa thế, mặt quay hướng Tây, phía trước là cánh đồng, xung quanh là khu dân cư sinh sống đông đúc, mặt quay hướng Tây. Với tổng diện tích là 2111 m2

- Các công trình kiến trúc.

Chùa có mặt bằng kiến trúc kiểu chữ Đinh gồm 3 gian 2 dĩ Tiền đường và 3 gian Thượng điện, kết cấu vì nóc kiểu “chồng rường giá chiêng”, vì nách bán giá chiêng. Trên các đầu dư chạm hình đầu rồng ngậm ngọc . Trên các kẻ bẩy hiên chạm vân mây hoa lá cách điệu.Ngoài ra, chùa còn có nhà Mẫu 4 gian, nhà khách 4 gian kiến trúc chủ yếu được bào trơn, đóng bén.

- Nhân vật được thờ

Giống như tất cả các ngôi chùa khác, chùa Triều Thôn được khởi dựng từ lâu đời để thờ Phật, thờ Mẫu, thờ các vị tổ là trung tâm sinh hoạt tôn giáo đạo Phật của nhân dân địa phương.

- Các hiện vật tiêu biểu.

03 tượng tam thế, , bộ tượng Ngọc Hoàng, Nam Tào, Bắc Đẩu, tượng Đức Ông, tượng Thánh Tăng, 01câu đối, 01 hoành phi có niên đại thế kỷ XX.

7. Di tích thôn Tự Thôn

7.1. Đình Tự Thôn

- Lịch sử hình thành

Theo các cụ cao niên địa phương cho biết Đình Tự Thôn vốn được khởi dựng từ lâu đời, là nơi phụng thờ Thần hoàng làng. Trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp, thực hiện chủ trương tiêu thổ kháng chiến, năm 1950, Đình Tự Thôn bị hạ giải hoàn toàn. Nền đình cũ sát chân núi, cách đình hiện nay khoảng 15 m. Năm 2002, nhân dân địa phương đã góp công, góp của khôi phục lại Đình Tự Thôn. Năm 2011, xây dựng Nghi môn, tường bao khuôn viên, lát sân. Năm 2017, xây dựng nhà Tạo soạn 4 gian.

Đình Tự Thôn  được xếp hạng cấp tỉnh, năm 2017

- Cảnh quan môi trường, đất đai.

Đình Tự Thôn hiện được tọa lạc trên diện tích đất…. m2, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đât.

Đình Tự Thôn tọa lạc trên khu đất đẹp, dưới chân núi Dạm, phía trước là cánh đồng rộng bát ngát, xa xa là núi Con Quy và dòng sông Đuống uốn quanh. Đình quay mặt hướng Tây - Nam, theo quan niệm thì đây là hướng đầy dương tính, sáng sủa, tránh được giá rét. Di tích Đình Tự Thôn cùng với cảnh quan xung quanh tạo thành một không gian hài hòa, thuần chất làng quê đồng bằng Bắc Bộ.

- công trình kiến trúc

Đình Tự Thôn gồm các công trình kiến trúc: Đại đình, Hậu cung, Nghi môn, nhà tạo soạn, sân đình nằm trong không gian thoáng mát.

 Toà Đại đình gồm 3 gian 2 chái làm theo kiểu “bình đầu 4 mái đao cong”. Kết cấu hệ chịu lực (hệ vì) được làm bằng bê tông cốt thép với 4 bộ vì, mỗi bộ vì có 6 hàng chân cột, kết cấu tương tự nhau. Vì nóc kết cấu kiểu “chồng rường”, vì nách kiểu “con chồng kẻ truyền” nối với cột hiên.Trang trí kiến trúc tập trung tại các con chồng, câu đầu, đấu kê, kẻ hiên, đầu dư...với các đề tài: rồng, lá lật, chữ Thọ. Các thành phần còn lại để trơn, không trang trí. Trên cùng là bờ nóc được phủ vữa áo trang trí “Lưỡng long chầu nhật”, phía hai đầu trang trí con kìm. Dưới bờ dải, bờ guột, đầu đao được trang trí “lân, rồng”.

Tòa Hậu cung có kết cấu kiến trúc kiểu “chồng diêm 2 tầng 4 mái”. Hậu cung có 4 bộ vì tạo thành 3 gian, mỗi bộ vì có 2 hàng chân cột, kết cấu như sau: vì nóc kiểu “chồng rường” nằm trên 2 cột trốn đặt trên quá giang gác lên hai cột quân, đỡ tầng mái trên. Vì nách kiểu “kẻ ngồi”, xà nách gác tường bao đỡ mái dưới. Giữa hai tầng mái có hệ thống lỗ thoáng hoa chanh và chấn song con tiện. Các thành phần kiến trúc để trơn không trang trí, sơn màu nâu đỏ.

- Nhân vật được thờ

Theo bản “Thần tích – thần sắc” kê khai năm 1938 khẳng định Thần hoàng làng phụng thờ tại đình Tự Thôn gồm: Ngũ vị Lôi công (Đệ nhất Nguyễn Lôi công, Đệ nhị Nguyễn Lôi công, Đệ tam Nguyễn Lôi công, Đệ tứ Nguyễn Lôi công, Đệ ngũ Nguyễn Lôi công) và Tam vị thủy thần (Chàng Cả linh ứng đại vương, Chàng Hai linh ứng đại vương, Chàng Ba linh ứng đại vương).

- Các hiện vật tiêu biểu.

01 bản thần tích kê khai năm 1938, 01 bia đá thời Nguyễn

 Các đồ thờ tự có trong di tích gồm: 03 ngai thờ, 03 bài vị, 04 kiếm thờ, giá văn, bát hương, hương án, hoành phi, câu đối, hạc thờ, long đình.... đều hiện vật có niên đại từ thế kỷ XX-XXI.         

7.2. Chùa Dạm (Chùa Tấm Cám)

- Lịch sử hình thành

Chùa Dạm là gọi theo tên núi vì nó nằm trên núi Dạm. Sử chép và truyền kể: Chùa do Nguyên phi Ỷ Lan chọn địa điểm và hưng công xây dựng từ mùa đông năm 1086 đến năm 1094 thì hoàn thành. Trải trường kỳ lịch sử chùa được trùng tu tôn tạo nhiều lần. Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp  chùa bị dỡ bỏ. Sau khi hòa bình lập lại năm 1986 nhân dân địa phương xây dựng 3 gian chùa nhỏ trên nền đất cũ để thờ Phật. Năm 2017 được sự quan tâm của nhà nước xây dựng lại mới ngôi chùa trên cấp nền 4 với quy mô to lớn.

Chùa Dạm được Bộ Văn hoá Thông tin xếp hạng di tích lịch sử văn hoá - Quyết định số 29 -VH/QĐ ngày 13/01/1964.

- Cảnh quan môi trường, đất đai.

Chùa Dạm hiện được tọa lạc trên diện tích đất là 4,7 ha đã có hồ sơ giải thửa. Hiện nay, chùa tòa lạc trên lưng chừng phía Đông - Nam núi Dạm thuộc xã Nam Sơn, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh, nhìn xuống cánh đồng trước mặt là núi Con Rùa, xa xa là sông Tào Khê và sông Thiên Đức. Trước cửa chùa có một con mương chạy từ chân núi ra bờ sông gọi là ngòi Con Tên.

- công trình kiến trúc

Dự án xây dựng mới chùa Dạm được thực hiện từ năm 2015 đến năm 2018 với tổng diện tích là 4,7 ha được xây mới mới theo phong cách truyền thống gồm 12 hạng mục chính: Tam quan; hành lang; nhà thờ tổ; đền thờ mẫu; tam bảo; nhà khách-nhà tăng; nhà ăn; nhà bếp-vệ sinh; cổng phụ; khu vệ sinh công cộng; sân vườn, đường dạo, cây xanh; hạ tầng kỹ thuật ngoài nhà

Hiện tòa Tam bảo có kết cấu mặt bằng kiến trúc kiểu chữ Đinh. Tiền đường và Thượng Điện. Kết cấu vì nóc kiểu “chồng rường giá chiêng”, vì nách “chồng rường”. Các hạng mục chùa mới có quy mô kiến trúc đồ sộ được xây dựng hoàn toàn bằng gỗ lim, đắp vẽ, trang trí tinh xảo bằng những kỹ thuật truyền thống.

- Nhân vật được thờ

Giống như hầu hết các ngôi chùa trên làng quê Việt Nam chùa Dạm là công trình tôn giáo khởi dựng lên từ lâu đời để thờ Phật, thờ Mẫu, thờ các vị sư tổ. Ngoài ra chùa thờ bà Nguyên Phi Ỷ Lan (người có công xây dựng ngôi chùa vào thời Lý), chùa còn là trung tâm sinh hoạt tôn giáo đạo Phật của nhân dân.

Lai lịch công trạng của bà được tóm tắt như sau:

Nguyên phi Ỷ Lan sinh năm 1044, tên thật là Lê Khiết Nương, còn có tên khác là: Lê Thị Khiết, Lê Thị Yến Loan…tuy nhiên, bà được mọi người biết đến qua tên Ỷ Lan. Bà là con của ông Lê Công Thiết và bà Vũ Thị Tĩnh, quê ở Thổ Lỗi (còn có tên là làng Sủi), nay thuộc huyện Gia Lâm, Hà Nội.

Năm 1063, vua Lý Thánh Tông đã 40 tuổi mà vẫn chưa có con trai để truyền ngôi. Nhà vua thường đi cầu tự ở các chùa, khi về chùa Dâu đi qua hương Thổ Lỗi, Ngài nhìn ra thấy từ xa có người con gái tựa vào cây lan và cất tiếng hát trong trẻo liền truyền đến hỏi chuyện. Vua thấy cô gái tuy ăn mặc quê mùa nhưng cử chỉ đoan trang dịu dàng, đối đáp phân minh. Sau đó, vua Lê Thánh Tông đưa người con gái ấy vào cung phong làm cung nhân, sau phong Ỷ Lan phu nhân (nghĩa là cô gái tựa gốc cây lan).

Mùa xuân năm 1066, Ỷ Lan sinh Hoàng tử Lý Càn Đức, ngay hôm sau lập làm Hoàng Thái tử. Nhà vua đổi niên hiệu, đại xá thiên hạ và phong Ỷ Lan phu nhân làm Thần phi…sau lại phong Ỷ Lan làm Nguyên phi, đứng đầu hàng phi trong cung

Khi sống trong hoàng cung, Ỷ Lan không lấy việc chau chuốt nhan sắc làm trọng mà quan tâm đến hết thảy công việc của triều đình. Ỷ Lan khổ công học hỏi, miệt mài đọc sách, nghiên cứu kinh lý nên sau thời gian ngắn mọi người đều kinh ngạc trước sự hiểu biết uyên thâm của bà, triều đình khâm phục là người tài. Tháng 2 năm 1069, vua Lý Thánh Tông thân chinh đi đánh Chiêm Thành và trao quyền nhiếp chính cho Nguyên phi Ỷ Lan. Tháng Giêng năm 1072, vua Lý Thánh Tông lâm bệnh nặng rồi qua đời. Hoàng Thái tử Lý Càn Đức khi đó mới 7 tuổi lên nối ngôi, tức vua Lý Nhân Tông. Nhà vua phong Nguyên phi Ỷ Lan làm Hoàng Thái phi, sau đó phong là Linh Nhân Thái hậu nắm quyền buông rèm nhiếp chính.

Vốn là người sùng đạo Phật, Hoàng Thái hậu Ỷ Lan càng để tâm làm việc thiện, xây chùa và nghiên cứu về đạo Phật. Tính đến năm 1115, bà đã cho xây cất khoảng 150 chùa, đền trong đó có chùa Đại Lãm tại xã Nam Sơn ngày nay. Ngày 25 tháng 7 năm Đinh Dậu (1117), Hoàng Thái hậu Ỷ Lan qua đời, thọ 73 tuổi, thụy hiệu là “Linh Nhân Phù Thánh Hoàng Thái hậu”.

  • Các hiện vật tiêu biểu.

01 trụ đá thế kỷ XI

Các tượng thờ và các đồ thờ tự đều mới tạo tác thế kỷ XXI như sau: 03 tượng Tam Thế, bộ tượng Dida Tam Tôn, bộ tượng Hoa Nghiêm Tam Thánh, 01 tượng Ngọc Hoàng, 01  tượng Di Lặc, 01 tượng Quan âm, tượng Hộ Pháp, tượng Đức Ông, tượng Thánh Hiền, tượng Bát Bộ Kim Cương, tượng Thập Điện Diêm Vương, tượng bà Nguyên Phi Ỷ Lan, tượng vua Lý Nhân Tông…..

8. Di tích thôn Thái Bảo

8.1. Đình Thái Bảo

- Lịch sử hình thành

 Theo các cụ cao niên cho biết ngôi đình được khởi dựng từ lâu đời. Đình làng Thái Bảo bị phá huỷ hoàn toàn trong kháng chiến chống Pháp. Năm 1992 xây mới tòa Hậu cung. Năm 1995 xây dựng mới tòa Đại đình.

Đình Thái Bảo đã được UBND tỉnh xếp hạng di tích lịch sử văn hoá - Quyết định số 109/1998/QĐ-UB ngày 31/12/1998.

- Cảnh quan môi trường, đất đai.

Đình Thái Bảo hiện được tọa lạc trên diện tích đất 1514 m2, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đât.

Đình làng Thái Bảo dựng ở phía Đông Nam xóm đình, sát con đường đi của làng.Toàn bộ công trình kiến trúc của đình hiện còn đều quay theo hướng Đông.

- công trình kiến trúc

Đại đình 5 gian: Kiến trúc kiểu bình đầu, cột trụ cây đèn, khung đình bằng gỗ lim, cấu trúc kiểu lòng thuyền con trồng, kẻ truyền, bẩy trước gồm 6 vì, 24 cột. Phía trước mở cửa bức bàn, hai hồi xây gạch mở cửa ô chữ thọ tròn. Nền lát gạch vuông.Phần chạm khắc tập trung ở các con trồng, đầu bẩy, chạm nổi hình hoa lá và vân mây cách điệu, kỹ thuật khá điêu luyện. Hậu cung 2 gian. Cấu trúc kiểu lòng thuyền gồm 3 vì kèo kìm, xà nách bào trơn không chạm khắc.

- Nhân vật được thờ

Đình Thái Bảo thờ ông Nguyễn Công Thắng - vị danh thần triều Lý đã lập công lớn trong công cuộc đánh giặc giữ nước, bảo vệ quốc gia Đại Việt. Lai lịch công trạng của Ngài được tóm tắt như sau:

Thời bấy giờ ở vùng Thanh Hóa có gia đình họ Nguyễn, húy là công Danh - vốn con nhà dòng dõi thi lễ. Ông sánh duyên cùng người con gái Bùi tên gọi là Thị Phương cùng là con nhà dòng dõi thi thư truyền đời làm nghề thuốc chữa bệnh cứu người. Ông bà kết duyên với nhau đã 15 năm mà chưa có con. Một đêm ông bà ngồi hóng mát ngắm trăng nhìn về phía phương Nam mà lòng chạnh nhớ về quê hương da diết… Bỗng thấy một vì tinh tú sáng lòa bay vụt từ phương Nam ra Bắc, Thời gian sau quả nhiên bà có chửa, được hơn 10 tháng thì mãn nguyệt khai hoa - sinh hạ một nam nhi có 3 tràng hoa quấn cổ, diện mạo đường đường ngọc tướng, mắt sáng, miệng rộng, tiếng khóc oang oang như đứa trẻ lên năm. Năm 3 tuổi ông bà mới làm lễ đặt tên là Công Thắng. Năm tuổi Công Thắng đã có thể hiểu lễ nghĩa và biết trên kính dưới nhường. Nghe người khác học thông được mặt chữ… Bảy tuổi cha mẹ cho nhập học và được mệnh danh là thần đồng.

Năm mười năm tuổi, Công Thắng thiên chất cao siêu, lực học tinh thông, làu thông kinh sử, binh thư. Võ nghệ có thể địch nổi muôn người.

Vì hiếm hoi, năm 17 tuổi cha mẹ đã cho kết duyên cùng con gái nhà họ Nguyễn tên gọi là Thị Chinh là người bản xã. Thị Chinh khi ấy tuổi mới mười năm nhưng có sắc đẹp như trăng rằm, môi son má đào thật xứng là trang mỹ nữ.

- Các hiện vật tiêu biểu.

Trong đình còn bảo lưu được 01 cuốn thần tích

07 đạo sắc phong có niên đại :1767, 1783, 1858, 1888, 1909, 1924, 1945

 Một số đồ thờ tự thời Lê - Nguyễn gồm: 2 ngai thờ, bài vị, 2 pho tượng, 2 hậu bành, 1 kiệu bát cống...

8.2. Chùa Hàm Long

- Lịch sử hình thành

Chùa thuộc làng Thái Bảo, nằm trên suờn núi hình miệng rồng nên được gọi là Hàm Long (hay Long Hạm). Tương truyền, đây là chỗ tu hành của sư Dương Không Lộ”. Như vậy, chùa được khởi dựng từ thời Lý (khoảng thế kỷ XII) qua nhiều thời kỳ lịch sử đã bị hư hại. Đến thời Nguyễn chùa được tu dựng lại, và từ đó đến nay công trình liên tục được trùng tu tôn tạo.

Năm 1928 trùng tu chùa

Năm 1944 tôn tạo một số công trình trong chùa

Năm 1999 trùng tu Tiền đường

Năm 2000 xây lầu quan âm

Năm 2014 xây nhà Khách, tăng phòng

Năm 2016 xây cổng tam quan, kè ao

Chùa được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng di tích lịch sử văn hoá - Quyết định số 28-VH/QĐ, ngày 18/01/1988.

- Các công trình kiến trúc.

Ngôi chùa hiện nay có quy mô lớn gồm các công trình: Tam Bảo, nhà Tổ, nhà Mẫu, nhà Khách, nhà Tăng, cổng Tam Quan, các công trình phụ trợ. Tam bảo chùa được làm bằng gỗ lim, kết cấu hình chữ Đinh, gồm Tiền đường 7 gian, kết cấu vì nóc “chồng rường giá chiêng”, vì nách “kẻ ngồi cốn mê” và 3 gian Thượng điện kết cấu vì nóc “chồng rường giá chiêng”, vì nách  “kẻ ngồi”.

- Nhân vật được thờ

Ngoài thờ Phật, thờ 7 vị Tổ, thờ Mẫu , thờ ông Đỗ Trọng Vỹ

- Các hiện vật tiêu biểu.

Trong chùa còn giữ được nhiều pho tượng cổ thời Nguyễn, đặc biệt có 5 pho tượng được đúc bằng đồng to bằng người thật: 01Tượng Thích Ca, 01 tượng Ca Diếp, 01tượng Đức tổ cứu sinh…

 01 bia “Trùng tu Long Hạm tự” tứ diện khắc vào năm 1830

01 chuông đồng thời Nguyễn.

Ngoài ra còn rất nhiều tượng thờ và đồ thờ tự mới được tạo tác có niên đại thế kỷ XXI.

- Di sản văn hóa phi vật thể gắn với di tích

Chùa có ngày hội vào ngày 14 tháng 2 âm lịch,  ngoài ra trong năm còn  các ngày như: lễ  Phật Đản, lễ Vu Lan, tuần rằm, mùng một, dịp lễ hội truyền thống, tết nguyên đán. Các phật tử, các vãi và quý khách thập phương về dự lễ hội chùa. Trong những ngày lễ hội là ngày về với tín ngưỡng tâm linh, lễ  phật, tế lễ dâng hương trước cửa phật, thể hiện lòng thành kính dâng lên đức phật những tấm lòng từ bi, luôn làm việc thiên cho đời.

9. Di tích thôn Sơn Đông

9.1. Chùa Bảo Quang (Chùa Bụt Mọc)

- Lịch sử hình thành.

Chùa Sơn Đông còn gọi là chùa Bách Tháp hay chùa Bụt Mọc (vì chùa có đến trăm mộ tháp và trên đỉnh núi có khối đá hình người đứng như Bụt Mọc).. Theo tư liệu văn bia chùa Bảo Quang được xây dựng vào năm 1720, được sử sách ca ngợi là có quy mô lớn, phong cảnh đẹp, toàn bộ công trình đã bị phá hủy trong kháng chiến chống Pháp. Năm 1994 nhân dân xây dựng lại chùa.

- Cảnh quan môi trường, đất đai.

Chùa Bảo Quang nằm trên sườn núi con Phượng, tạo thành thế chân vạc với chùa Hàm Long và chùa Dạm (cùng một xã), trong bán kính chừng 1km. Hệ thống các công trình xây dựng, mộ tháp xưa nay đều hướng về phía Tây Nam.

Chùa hiện được tọa lạc trên diện tích đất 8235 m2, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đât.

- công trình kiến trúc

Hiện nay chùa chỉ còn 50% số tháp, xây cao bình quân 10m, diện tích 1 tháp trung bình là 1,8m2; Phân bố đều ở khắp khu vực. Cảnh quan vốn xưa sầm uất nay chỉ còn chủ yếu mộ tháp. Tình trạng xuống cấp của chùa Tháp đã được khắc phục tôn tạo ngày một khang trang. Các tháp đã siêu đổ nay được xây trát gia cố lại vững chắc, đẹp hơn. Các hạng mục công trình nhà cửa: Tam Bảo, thường, điện, nhà tổ nhà mẫu, tạo soạn dần dần được tu bổ khôi phục, chắc chắn bằng gỗ trí thiết.

Tòa Tam Bảo, gồm 5 gian nhà gỗ lim khang trang rộng rãi thoáng đãng. Cấu trúc vì kèo theo lối tiền kẻ hậu bẩy và kẻ truyền trụ giá chiêng.

Thượng điện (chuôi Vồ) nối liền với Tam Bảo. Nghệ thuật chủ yếu bào trơn đóng bén (phần mộc), đắp vẽ hoa văn hoa chanh bờ nóc, bờ dải, cột đồng trụ.

- Nhân vật được thờ

Giống như tất cả các ngôi chùa khác, chùa Bảo Quang được khởi dựng từ lâu đời để thờ Phật, thờ Mẫu, thờ các vị tổ là trung tâm sinh hoạt tôn giáo đạo Phật của nhân dân địa phương.

- Các hiện vật tiêu biểu.

03 tượng tam thế, 03 bộ tượng tam tôn, 01 tượng Đế Thiên, Đế Thích , tượng Đức Ông, tượng Thánh Hiền, tượng Hộ Pháp, tượng Tổ, tượng Mẫu, hoành phi, câu đối có niên đại thế kỷ XX

01 Bia đá  “Cát liên hoa xà soạn phật dương đồ” dựng khắc năm 1763

51 tháp mộ xây bằng gạch.

9.2. Đình Sơn Đông

- Lịch sử hình thành.

 Theo các cụ cao niên cho biết đình khởi dựng từ lâu đời và bị phá hủy trong kháng chiến chống thực dân Pháp. Ngôi đình hiện nay được nhân dân xây dựng năm 2002 trên nền móng của ngôi đình cũ.

Năm 2011 tu sửa nhỏ

Đình Thái Bảo đã được UBND tỉnh xếp hạng di tích lịch sử văn hoá - Quyết định số 109/1998/QĐ-UB ngày 31/12/1998.

- Cảnh quan môi trường, đất đai.

Đình Sơn Đông hiện được tọa lạc trên diện tích đất , đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đât.

Đình nằm vị trí giữa làng, phía trước là thôn Thái Bảo, đối diện là chùa Hàm Long, phía sau đình là trục giao thông liên xã, bên trái là trường học.

- công trình kiến trúc

Đình được xây dựng theo kiểu truyền thống với 4 mái đao cong, trên bờ nóc  đắp “lưỡng long chầu nguyệt” gồm tòa Tiền tế 3 gian 2 chái liên kết với 1 gian Hậu cung tạo thành bình đồ kiến trúc kiểu chữ Đinh. Vì nóc kiểu “thượng chồng rường, hạ kẻ ngồi”. Hệ thống khung đỡ bằng gỗ lim, bộ vì nóc kiểu chồng rường giá chiêng.

- Các hiện vật tiêu biểu.

Hiện vật trong đình có thần tích, hoành phi, câu đối, hương án, bát hương, ngai thờ, bài vị…đều có niên đại thế kỷ XXI.

- Nhân vật được thờ

Thành hoàng được thờ ở đình là Ngũ Vị Lôi Công: Đệ nhất Nguyễn Lôi Công Hưởng Ứng, Đệ nhị Nguyễn Lôi Công Uy Linh, Đệ tam Nguyễn Lôi Công Dũng Liệt, Đệ Tứ Nguyễn Lôi Công Hách Chấn và Đệ ngũ Nguyễn Lôi Công Anh Linh. Các vị thần đã âm phù trợ giúp tướng công Nguyễn Công Cự đánh giặc Chiêm Thành vào thời Lý được dân 3 xã 9 làng cùng thờ làm Thành hoàng. Đó là các làng: Giang Liễu, Hà Liễu, Đa Cấu, Sơn Đông, Đông Dương, Mao Dộc, Mao Yên, Mao Lại, Mao Trung.

Nguồn: UBND xã Nam Sơn