Di tích lịch sử phường Vân Dương

18/06/2019 09:11 Số lượt xem: 469

Hiện nay, tổng số di tích trên địa bàn phường Vân Dương là 11 di tích (không tính nhà thờ họ và một số di tích như đền, nghè, miếu có quy mô kiến trúc nhỏ, không rõ nhân vật thờ). Số di tích được Nhà nước xếp hạng có 5 di tích (di tích xếp hạng cấp Quốc gia là 2, di tích cấp tỉnh là 3). Các di tích trên địa bàn phường Vân Dương được nhân dân phục dựng vào thời kỳ sau năm 1954, với chất liệu chủ yếu bằng gỗ, kiểu kiến trúc theo lối truyền thống chữ Đinh, chữ Nhất.Nguồn kinh phí trùng tu tu bổ các di tích chủ yếu được huy động từ nguồn vốn xã hội hóa của nhân dân.

1.Nghè Chu Mẫu

Nghè Chu Mẫu vốn khởi dựng từ lâu đời, thời Nguyễn nghè được trùng tu khá quy mô, Nghè Chu Mẫu  hiện được tọa lạc trên diện tích đất 803m2, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đât. Nghè nằm ở vị trí đầu làng, phía Đông giáp khu công nghiệp Quế Võ, các phía còn lại giáp khu dân cư. Phía trước nghè là trục đường giao thông của khu, nơi họp chợ hàng ngày tại cửa nghè phục vụ đời sống con em địa phương và số lao động trẻ đang sinh sống tại đây. Khuôn viên di tích rộng lớn được bao bọc bởi hệ thống tường bao, bên trong sân lát gạch đỏ tạo nên không gian di tích vừa thoáng mát, vừa thâm nghiêm, cổ kính.

Nghè nằm ở phía Đông Bắc của làng, mặt quay về hướng Đông, bao gồm các công trình: Đại Đình, Hậu cung, cổng Nghi môn. Toà chính có kiến trúc kiểu chữ Nhị gồm Đại đình 3 gian 2 chái, vì nóc giá chiêng, vì nách cốn mê có chạm rồng cuộn mây, trên bờ nóc trang trí hình “lưỡng long chầu nguyệt”, con kìm, con sô. Hậu cung 3 gian, bộ khung gỗ táu to khoẻ được chạm khắc hoa lá cách điệu.

Nghè Chu Mẫu thờ các vị thánh Tam Giang. Công trạng như sau: “ Anh em Đức Thánh Tam Giang sinh ra ở làng Vân Mẫu. Khi lớn lên, gặp lúc giặc Lương sang xâm lược nước ta. Hai anh em Hống Hát theo Triệu Quang Phục đánh giặc. Quang Phục mất, Lý Phật Tử chiếm ngôi. Hống Hát không chịu khuất phục kẻ bán nước nên đã vứt bỏ nhung y trở về vùng Viêm Xá (Diềm) làm ruộng. Phật Tử cho vời hai ông ra làm quan, nhưng Hống Hát nhất định từ chối. Bị bức Bách quá, họ phải đưa cả gia đình lên vùng Đu Đuốm để sống. Ở đây cũng không yên, hai ông liền đóng thuyền gỗ xuôi theo dòng sông Nguyệt Đức, đến ngã ba xà thì đục thuyền tuẫn tiết vào ngày mồng 10 tháng 4. Thượng đế biết chuyện vô cùng thương cảm, phong cho hai ông làm thần, gọi là Long quân Phó sứ, coi quản vùng sông này và lệnh cho các làng ven sông đó phải thờ làm thành Hoàng gọi là Thánh Tam Giang. Sau này các ông âm phù cho Lê Đại Hành, rồi Lý Thường Kiệt đánh giặc. Trương truyền bài thơ “ Nam quốc sơn hà…” là do hai ông đọc tại đền xà trong một đêm thanh vắng. Nghe tiếng thơ thần quân Tống hoảng sợ. Chịu rút về nước. Các triều đình đều có sắc phong, ghi nhận, nhân dân đời đời hương khói tưởng niệm phụng thờ.

Hàng năm vào ngày 14,15 tháng Tư là ngày giỗ đức thánh mẫu (mẹ của đức thánh tam giang- bà Phùng Thị Nham), được tổ chức cùng với Đền Vân Mẫu. Tuy nhiên, tại nghè, nhân dân địa phương mở cửa nghè, để nhân dân vào thắp hương lễ thánh. Ngoài ra tại đây có các ngày sóc vọng trong tháng.

2.Chùa Chu Mẫu

Chùa Chu Mẫu vốn được khởi dựng từ lâu đời và đã trải qua nhiều lần trùng tu tôn tạo. Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, chùa bị dỡ bỏ. Năm 1994 ngôi chùa được xây dựng khang trang bề thế như dáng vẻ hiện nay trên nền đất của nghè.

Chùa Chu Mẫu hiện tọa lạc trên diện tích đất khoảng 3000m2, dùng chung khuôn viên với nghè. Phía Tây của chùa giáp đường liên thôn, phía Nam giáp khu công nghiệp Quế Võ, hai phía Đông và phía Bắc giáp khu dân cư. Toàn bộ khuôn viên chùa được xây tường bao bảo vệ, các công trình kiến trúc khang trang tố hảo.

Hiện nay chùa Chu Mẫu được xây dựng trên nền đất của Nghè, chùa có hướng nam, có mặt bằng kết cấu kiến trúc kiểu chữ đinh. Công trình gồm Tam bảo và nhà mẫu. Tòa Tam bảo gồm Tiền đường 3 gian, Thượng điện 1 gian. Bộ khung làm bằng gỗ tứ thiết được liên kết bởi 6 hàng cột ngang 4 hàng cột dọc, phần hoành rui bằng gỗ. Bộ vì nóc kiểu “con chồng giá chiêng”, bộ vì nách kiểu “chồng rường”. Trên các bộ phận hầu như để trơn, ít trang trí đắp vẽ. Hệ thống cửa được mở ở 3 gian giữa theo kiểu “thượng song hạ bản”. Bên cạnh công trình chính là tòa nhà mẫu, đều được xây dựng theo dáng vẻ truyền thống, hài hòa với kiến trúc của công trình chính.

Chùa thờ phật, thờ mẫu giống như bao ngôi chùa khác. Theo tư liệu lịch sử cho biết, đạo phật hình thành do thái tử Tất Đạt Đa con trai vua nước Tịnh Phạn xưa sáng lập. Năm 29 tuổi ngài xuất gia tu hành, đến năm 35 tuổi ngài đắc đạo, sau đó ngài đi hoằng pháp và gioá hoá chúng sinh, năm 80 tuổi ngài nhập niết bàn, sau này các giáo lý của ngài được các đề tử chép lại thành kinh nhà phật. Người truyền phật pháp vào Việt nam đầu tiên đó là 1 tăng sĩ Ấn Độ tên Bồ Đề Đạt Ma qua nhiều con đường khác nhau, điểm đầu tiên mà ngài tu luyện chính là vùng núi Phật Tích ngày nay, vì vậy ngài được người dân Việt nam coi là vị tổ thứ nhất và được thờ tại chùa. Trải thời gian, tập tục thờ mẫu được du nhập và ăn sâu vào đời sống người dân, vì vậy trong chùa còn có tục thờ mẫu, cầu cho mưa thuận gió hoà mùa màng bội thu , trong tục thờ mẫu có nơi thờ tam phủ, có nơi thờ tứ phủ.

Chùa là trung tâm sinh hoạt tôn giáo thờ đạo Phật của nhân dân địa phương. Hằng năm, tại chùa tổ chức hội làng vào ngày 15 tháng Giêng âm lịch. Ngoài ra trong chùa còn nhiều sự lệ khác như: lễ vía phật Thích Ca xuất gia (8/2), lễ vía phật Quan Âm Bồ Tát thành đạo (19/6), vu lan báo hiếu, ngày Phật đản (15 tháng 4)v.v… những ngày lễ hội tại chùa cũng là ngày hội hát quan họ của làng. Vào ngày 15 tháng giêng các “liền anh, liền chị” của làng ra chùa hát đối đáp quan họ với nhau, giao lưu văn hoá văn nghệ.

3. Đền Thánh Cô

Đền Thánh Cô được nhân dân xây dựng mới năm 2014 trên khu đất rộng và thoáng ngay cạnh quốc lộ 18 hướng đi Bắc Ninh - Phả Lại. Đền nằm bên kia đường quốc lộ 18, cách đó không xa là nghĩa trang của tp Bắc Ninh (nghĩa trang Cầu Ngà). Trước thời gian này, vùng vđất đền hiện nay chỉ có ngôi mộ nhỏ, lộ thiên, có bệ thờ xây bằng gạch, phía trên bệ thờ là đồ thờ tự đơn giản, và theo lời người địa phương thì đây là mộ bà Đạm Nương là con gái út của bà Phùng Thị Nhan, là em gái của đức thánh Tam Giang.

Năm 2018, nhân dân đã công đức tiền của xây thêm nhà khách, quy hoạch tường bao xung quanh, xây công trình phụ trợ di tích và kè ao trước cửa Đền Thánh Cô.

Hiện nay đền nằm trên diện tích 4800m2, đã có sổ đỏ. Đền nằm bên kia đường quốc lộ 18, phía trước đền là dòng Kim Khê chảy qua địa bàn phường, phía sau là đường cao tốc Hà Nội- Lạng Sơn, bên phải là nghĩa trang Cầu Ngà. Đền nằm ở xa khu dân cư. Tuy nhiên, vào ngày lễ tuần rằm, người dân trong khu ra đền thắp hương lễ thánh.

Hiện nay, ngoài phần mộ, còn có Đền thờ. Đền thờ có kết cấu mặt bằng kiến trúc kiểu chữ đinh gồm Đại bái 3 gian 2 chái, 4 mái đao cong, bộ khung bê tông được liên kết bởi các bộ vì thượng giá chiêng, hạ kẻ. Hậu cung 1 gian, kiến trúc thượng giá chiêng, khung gỗ lim.Nhà khách xây dựng bên phải Đền chính gồm 3 gian, kiến trúc bình đầu, khung bê tông đơn giản, mái ngói.

Đền thờ Đạm Nương, người con gái thứ năm của bà Phùng Thị Nham.

Đền mới được xây dựng mới nên các hoạt động tại đền mới được tổ chức từ năm 2016 đến nay. Vào ngày 4/3 Âm lịch là ngày giỗ đức thánh cô, nhân dân tổ chức ngày kỵ nhật tại đây. Phần lễ chỉ tổ chức tế lễ và dâng hương lễ quả, không có phần hội.

4.Nhà Cố Trạch

Căn cứ tư liệu lịch sử cho biết Nhà Cố Trạch xây dựng từ lâu đời, tương truyền đó là nhà ở của đức Mẫu khi xưa. Trước chỉ là một lều cỏ, hàng ngày bà mẹ đi làm, tối về đây trú chân (Do tự dưng có thai nên đi làm về đến đêm mới dám về đây ngủ, tránh sự diếc móc của mọi người). Sau khi bà mất, để tưởng nhớ công ơn của bà đã sinh ra đức thánh Tam Giang, nhân dân địa phương đã lấy nhà bà ở khi xưa làm nơi thờ tự.

Trải qua thời gian, Nhà Cố Trạch được nhân dân địa phương tôn tạo mở rộng ngày càng khang trang và tố hảo hơn xưa.

Nhà Cố Trạch hiện nay có kết cấu kiến trúc kiểu chữ nhị gồm Hậu cung và Tiền bái. Hậu cung là một căn nhà gạch 3 gian, lợp ngói móc, phía trước trổ 3 cửa hình vòm, bên trong là các bệ thờ xây gạch, xây thoáng gồm 7 hàng chồng lên nhau. Cấu trúc khung nhà đơn giản, theo kiểu con chồng kẻ chuyền trốn cột ở lòng nhà. Tiền bái được trùng tu năm 1994, bộ khung gỗ tứ thiết được liên kết bởi 4 hàng cột ngang, 6 hàng cột dọc, kiến trúc thượng chồng giường, hạ kẻ ngồi.

Nhà khách 5 gian xây dựng năm 2002 nằm bên trái Nhà Cố Trạch, mái lợp tôn.

 Năm 2016 được sự nhất trí của chính quyền và nhân dân, trong khuôn viên đất Nhà Cố Trạch, được xây dựng thêm 1 toà nhà 3 gian để thờ bà Đạm Nương (Đạm Nương – người con gái út của bà Phùng Thị Nham) nằm ở bên trái nhà Cố Trạch. Toà nhà có kiến trúc kiểu chữ đinh gồm 3 gian đại bái và 1 gian hậu cung, mái ngói ta, tường hồi bít đốc, trổ cửa giữa.

Nhà Cố Trạch thờ bà Phùng Thị Nham- người mẹ sinh ra các đức thánh Tam Giang.

Hàng năm vào ngày 15/4 là ngày kỵ nhật của bà, tại đây dân làng không tổ chức các hoạt động, mọi hoạt động chính được tổ chức bên Đền Vân Mẫu cách nhà cố trạch khoảng 700m về phía Bắc, còn tại Nhà Cố Trạch, tuy không tổ chức tế lễ nhưng nhân dân trong làng đều đến thắp hương lễ bà cầu sức khoẻ và may mắn.

5.Đền Vân Mẫu

Theo tư liệu địa phương cho biết: đền khởi dựng sau khi đức Mẫu qua đời. quy mô khá đồ sộ, phía trước là 5 gian nhà tiền tế, phần mộ bà nằm ở giữa, phía sau là hậu cung, hai bên là hai giải vũ, các công trình quay xung quanh mộ tạo không gian khép kín và thâm nghiêm. Trải thời gian, có ông Lãnh Binh (người Tiên Sơn) đã cho chuyển toàn bộ công trình vềphía sau, khi đó ngôi mộ lại ở phía trước, lộ thiên. Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp năm 1952, khu đền bị huỷ hoại một số công trình, về sau một số công trình kiến trúc đền đã được sử dụng làm các công trình của nhà máy sứ cách điện thuộc Bộ năng lượng, ngôi mộ vẫn giữ nguyên, không bị ảnh hưởng bởi bom đạn chiến tranh.

Sau hoà bình lập lại, ngôi đền vẫn được nhân dân địa phương quan tâm, hương khói. Năm 1989, nhà máy sứ cách điện di dời, đền được tu bổ tôn tạo với uy mô khang trang to đẹp hơn trước. Đền có kiến trúc 3 gian 2 chái 4 máo đao cong, bộ khung gỗ lim chắc chắn, gồm 4 hàng cột ngang, 6 hàng cột dọc, kiến trúc kiểu chồng rường giá chiêng.

Năm 2012 nhân dân địa phương xây mới toà Tiền tế phía trước mộ đức thánh mẫu, quy hoạch xây tường bao xung quanh mộ , tường bao bằng đá kiểu lục giác. Toà tiền tế có kiến trúc 2 tầng 8 mái đao cong, bộ khung gỗ lim, được liên kết bởi bộ vì thượng giá chiêng, hạ kẻ ngồi, mái ngói ta.

Hiện nay Đền Mẫu (tức là Mẹ Đức Thánh) nằm trên một khu đất cao, ở phía Tây Bắc của làng Vân Mẫu, phía trước là dòng Tào Khê và cánh đồng làng, bên phải là khu đô thị đang xây dựng, phía sau đền là trụ sở UBND phường. Đền nằm ở vị trí cảnh quan đẹp thoáng mát, đất đai đã có sổ đỏ, không có sự tranh chấp xâm lấn đất đai.

Đền thờ đức thánh Mẫu, là bà Phùng Thị Nhan người sinh ra các đức thánh Tam Giang, người quê gốc Vân Mẫu xưa tức Hai Vân ngày nay..

Lễ hội được tổ chức vào ngày 15 tháng Tư hàng năm. Truyền rằng đây là ngày mất của đức thánh mẫu. Để tưởng nhớ công ơn thánh mẫu, ngay từngày 14 tháng Tư, chính quyền địa phương đã tập trung mở cửa đền bao sái đồ thờ tự, phong cờ quạt. Chuẩn bị đồ lễ. Sáng 15/Tưchính quyền các cấp và nhân dân địa phương tập trung tại đền lễ đức thánh mẫu.

6. Chùa Hai Vân -Linh Quang tự

Chùa vốn được khởi dựng từ lâu đời, là trung tâm thờ Phật của nhân dân địa phương, trong thời gian kháng chiến chống Pháp, chùa bị phá. Năm 2003, chùa Hai Vân được xây mới trên nền đất cũ chùa xưa để thờ phật.

Hiện nay chùa bao gồm các công trình như: Tam bảo, nhà Tổ, nhà Mẫu, …cùng vườn tược cây cối thâm nghiêm.

Năm 2004, nhân dân đảo lại ngói, năm 2018 nhân dân cùng với nhà sư trụ trì xây cổng Tam quan, kè ao chùa, xây lầu quan âm, Tháp trước toà tam bảo bằng nguồn vốn xã hội hoá 300 triệu đồng.

Chùa Hai Vân hiện tọa lạc tại thửa đất có diện tích 600m2. Mặt trước của chùa giáp danh với trục đường liên xã đi Đại Phúc, Khắc Niệm, Nam Sơn, ngoài ra phía trước chùa còn có ao đã được xây kè xung quanh tạo không gian cảnh quan đẹp, trong ao chùa có xây lầu quan âm, tượng quan âm đứng. Các phía còn lại giáp khu dân cư. Theo lời các cụ cao niên cho biết xưa kia, đình và chùa giáp nhau, trong thời gian kháng chiến, đình chùa bị phá huỷ, những năm gần đây nhân dân khôi phục lại chùa, còn đình chưa khôi phục lại vì đời sống người dân còn khó khăn, hiện nay cạnh chùa là đất đình khi xưa, trong khuôn viên đất đình vẫn còn 1 tấm bia đá cổ. Trong tương lai, nguyện vọng của chính quyền và nhân dân địa phương sẽ trùng tu lại ngôi đình xưa để thờ thánh.

Các công trình kiến trúc của chùa bao gồm: Tam quan, Gác chuông, Tam bảo, nhà tổ, nhà mẫu cùng một số công trình phụ trợ khác.

Tam bảo là công trình kiến trúc chính của chùa có kết cấu kiểu chữ Đinh gồm 5 gian 2 dĩ Tiền đường và 2 gian Thượng điện. Tiền đường được xây theo lối bình đầu bít đốc, mái lợp ngói mũi, trên bờ nóc đắp nổi tên chùa “Linh Quang tự”. Bộ khung gỗ lim chắc khoẻ được liên kết bởi 4 hàng cột ngang, 5 hàng cột dọc, vì nóc “giá chiêng chồng rường”, vì nách “kẻ ngồi”. Trên các cấu kiện kiến trúc như con rường, bẩy hiên, các bộ vì được chạm khắc hình hoa lá cách điệu. Nối với gian giữa Tiền đường là hai gian Thượng điện liên kết bởi 3 hàng cột ngang, 2 hàng cột dọc, vì nóc “giá chiêng chồng rường”.

Chùa là nơi thờ Phật, thờ Mẫu. Đây là trung tâm thờ Phật của nhân dân hướng con người đến những điều tốt đẹp, khuyến đến điều thiện, dời xa cái ác. Theo tư liệu lịch sử cho biết, đạo phật hình thành do thái tử Tất Đạt Đa con trai vua nước Tịnh Phạn xưa sáng lập. Năm 29 tuổi ngài xuất gia tu hành, đến năm 35 tuổi ngài đắc đạo, sau đó ngài đi hoằng pháp và gioá hoá chúng sinh, năm 80 tuổi ngài nhập niết bàn, sau này các giáo lý của ngài được các đề tử chép lại thành kinh nhà phật. Người truyền phật pháp vào Việt nam đầu tiên đó là 1 tăng sĩ Ấn Độ tên Bồ Đề Đạt Ma qua nhiều con đường khác nhau, điểm đầu tiên mà ngài tu luyện chính là vùng núi Phật Tích ngày nay, vì vậy ngài được người dân Việt nam coi là vị tổ thứ nhất vfa được thờ tại chùa. Trải thời gian, tập tục thờ mẫu được du nhập và ăn sâu vào đời sống người dân, vì vậy trong chùa còn có tục thờ mẫu, cầu cho mưa thuận gió hoà mùa màng bội thu , trong tục thờ mẫu có nơi thờ tam phủ, có nơi thờ tứ phủ.

Ngày hội chùa được nhân dân tổ chức vào 15 tháng Giêng hàng năm. Vào ngày này, nhân dân mở cửa chùa, sắm lễ vật  dâng tam bảo cầu cho gia đình được mạnh khoẻ, tối 15 tháng Giêng nhà sư trụ trì cùng phật tử tụng kinh . Ngoài ra còn có ngày vào hè (15 tháng 4), ngày ra hè (15 tháng 7), ngày giỗ tổ (7 tháng 2). Trong những ngày này và các ngày tuần rằm, mồng một hàng tháng đông đảo phật tử địa phương tới chùa dâng hương, lễ phật cầu may.

7. Đình Rẫy

Theo các cụ cao tuổi trong làng cho biết: đầu thời Lê, đình xây dựng trên khu đất phía Tây của làng,giáp chùa hiện nay. Đến cuối thời Lê, dân làng đã chuyển dịch ngôi đình sang sát liền chùa và xây dựng thành một ngôi đình lớn. Đình xưa có quy mô to lớn gồm Tiền Tế 7 gian, Đại Đình 7 gian và 3 gian Hậu cung, hai bên là hai dãy nhà Tả vu và Hữu vu, bộ khung gỗ lim chắc khoẻ, nghệ thuật trang trí chạm khắc tinh xảo. Ở giữa là lòng giếng, hai bên sàn đình lắp hệ thống sàn gỗ.

Năm 1947, thực hiện chủ trương tiêu thổ kháng chiến, đình đã bị phá dỡ hoàn toàn. Năm 1990, nhân dân đã dựng tạm ngôi đình nhỏ 3 gian trên nền đất mới (ở giữa làng như hiện nay). Đặc biệt vào năm 2019, với truyền thống hướng về nguồn cội, nhân dân địa phương đã góp công, góp của tu sửa lại ngôi đình với dáng vẻ kiến trúc truyền thống tại vị trí như hiện nay.Đình hiện tọa lạc tại thửa đất có diện tích 300m2, đất đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đình nằm giáp trục đường giao thông chính của khu Hai Vân, các phía còn lại giáp khu dân cư, đất di tích hẹp không có sân vườn, cây cối mà chỉ có duy nhất toà đại bái.

Đình thờ thánh Tam Giang. Truyền thuyết có nội dung như sau: Trương Hống, Trương Hát sinh ra trong một gia đình gồm năm anh em, bốn trai, một gái. Ba người còn lại trong gia đình là Trương Lừng, Trương Lẫy, và người con gái là Trương Đạm Nương. Năm anh em sinh ngày 15, tháng Giêng, năm Nhâm Ngọ (502), người làng Vân Mẫu, xã Vân Mẫu, huyện Quế Dương, quận Vũ Ninh, xứ Kinh Bắc (nay là khu Hai Vân, phường Vân Dương, thành phố Bắc Ninh). Mẹ là con gái họ Phùng, tên hiệu là Từ Nhan, sinh năm Quý Hợi 483 thời Nam Bắc Triều.Anh em học đến đâu lầu thông kinh sử đến đấy, ngày ngày chăm đọc binh thư, siêng rèn võ nghệ, nên đều là những người tinh thông văn võ. Khi anh em 17 tuổi thì mẹ mất (ngày 15 tháng 4 âm lịch năm Kỷ Hợi 519) và 5 anh em đã táng mẹ tại xứ đồng Bãi Cả, hiếu thảo thờ mẹ 3 năm.

Năm 545 nhà Lương, đời vua Đại Đồng năm thứ bảy, cử tướng Dương Phiêu và Trần Bá Tiên đem quân sang xâm lược Việt Nam. Triệu Quang Phục đưa quân về đầm Dạ Trạch (Hưng Yên) đánh phục kích, đồng thời truyền hịch trong dân gian tìm người tài giỏi đánh giặc giúp nước. Hai ông Trương Hống, Trương Hát nghe có hịch chiêu tài, anh em bàn nhau xin lệnh thầy, dụng kế lập thân, về quê mộ quân để đi giúp nước. Triệu Quang Phục được tin, sai sứ lên phong Trương Hống làm thượng tướng quân, Trương Hát làm phó tướng quân, Lã tiên sinh làm quân sư, Trương Lừng, Trương Lẫy làm tỳ tướng, Đạm Nương làm hậu binh lương và lo kế sách phản công. Đánh thắng giặc, các ông được ban thưởng.

Được tin Triệu Quang Phục lên ngôi vua, Lý Phật Tử (người họ Lý Nam Đế) đã đem quân đánh lại nhưng không thắng, bèn dùng kế cầu hôn gả con. Trương Hống và Trương Hát đã can Triệu Việt Vương đừng gã Cảo Nương cho Nhã Lang. Nhưng Triệu Quang Phục không nghe, mắc mưu của Lý Phật tử, rồi bị đánh úp. Lý Phật tử lên ngôi vua tự xưng là Hậu Lý Nam Đế và biết các ông là tướng tài giỏi bèn cho người vời ra làm quan. Song các ông nhất lòng trung quân không theo Lý Phật tử, các ông bàn nhau cùng đem gia quyến xuôi dòng sông Cầu, uống thuốc độc để giữ trọn tấm lòng trung với vua. Ngọc Hoàng Thượng đế phong Trương Hống, Trương Hát làm thần sông. Nhân dân dọc theo sông Cầu và các nơi các ông từng đóng quân đánh giặc đã vô cùng khâm phục, thương tiếc, lập đền thờ làm Thần.

Di sản gắn với di tích đình chính là lễ hội hàng năm tại đây. Lễ hội được tổ chức vào ngày 6 tháng Tám hàng năm, ngay từ mùng 4, đình được mở cửa bao sái đồ thờ tự, phong cờ quạt. Sáng mùng 5 làng tổ chức tế thánh, mùng 6 là ngày chính hội, dân làng tổ chức tế lễ tại đình. Về phần hội có nhiều trò chơi dân gian được tổ chức như đu, vật, cờ tướng, chọi gà, hát quan họ. Ngoài ngày hội chính còn có ngày sự lệ như ngày mùng 4/1 lễ kỳ yên, ngày 6/2 Xuân tế, ngày 10/4 giỗ thánh, ngày sóc vọng trong tháng.

8. Đình Lãm Dương

Đình Lãm Dương vốn xây dựng từ lâu đời, nhưng đến khoảng đầu thế kỷ XIX phải qua một lần trùng tu tôn tạo lớn. Khi đó ngôi đình bao gồm nhiều công trình kiến trúc đồ sộ, phía trước là nhà Tiền tế xây kiểu phương đình 8 mái chồng diêm đao cong uốn lượn thanh thoát nhẹ nhàng - công trình này còn bảo tồn nguyên vẹn đến ngày nay. Phía sau là toà Đại đình 5 gian 2 trái với hệ thống cột gỗ lim to khoẻ chạm khắc cầu kỳ, toàn bộ sàn đình ghép ván cao thoáng. Nằm ở hai bên đình còn có hai dãy Giao lương, mỗi dãy 3 gian có hành lang nối liền vào nhà Tiền tế. Ngoài ra trong khuôn viên ngôi đình còn có sân, vườn trước cửa có 3 cây gạo lớn và 1 cây đa cổ thụ toả bóng che kín ngôi đình. Chính nhờ những công trình kiến trúc tạo tác đẹp và cảnh quan sầm uất mà đình Lãm Dương luôn là niềm tự hào của người dân địa phương, nơi tôn nghiêm phụng thờ thành hoàng làng và duy trì các phong tục tập quán của quê hương.

Năm 1946 trong kháng chiến chống thực dân Pháp, thực hiện chủ trương “tiêu thổ kháng chiến” toàn bộ toà Đại đình, 2 dãy Giao lương của đình Lãm Dương bị hạ dải, nhiều đồ tế tự cũng vì đó mà thất lạc, mất mát. Với tinh thần gìn giữ các di sản văn hoá của quê hương nhân dân Lãm Dương đã kiên quyết gìn giữ toà Tiền tế và cất giấu được nhiều tài liệu, hiện vật có giá trị.

Năm 1993 được sự đồng ý và giúp đỡ của các cấp chính quyền, nhân dân hai thôn Lãm Làng và Lãm Trại lại cùng nhau xây dựng lại ngôi đình trên nền đất cũ. Toà Tiền tế được sửa sang, dựng lại Đại đình, nhiều đồ tế tự cũng được sưu tầm, phục chế bổ xung cho di tích ngày càng phong phú.

Nhìn chung mặc dù đã trải qua nhiều năm tháng dưới sự tác động khắc nghiệt của thiên nhiên và chiến tranh, đình Lãm Dương vẫn luôn được nhân dân địa phương gìn giữ. Ngày nay các công trình kiến trúc được bảo tồn và tôn tạo khang trang, nhiều tài liệu hiện vật được bảo quản và bổ xung làm cho di tích ngày càng khang trang, xứng đáng là trung tâm tín ngưỡng văn hoá của quê hương.

Đình Lãm Dương nằm trên sườn phía Bắc của dãy núi Dạm thuộc địa phận thôn Lãm Làng. Hiện tại khuôn viên khu di tích không lớn (rộng 424m2). Phía sau là đường lên núi, bên phải có nhà dân, bên trái là một ngõ nhỏ và ngôi chùa của làng. Toà  đình gồm có 2 công trình kiến trúc chính là Tiền tế và Đại đình nằm song song, mặt quay về hướng Bắc. Trước mặt toà đình là khu nhà văn hoá của thôn Lãm Làng và đường liên thôn chạy liền kề với Tiền tế nối với các làng xã xung quanh.

Toà Tiền tế của đình Lãm Dương có kết cấu độc đáo, công trình được các nghệ nhân xưa tạo tác theo kiểu phương đình, bình đồ gần vuông. Chiều dài là 10,2m, chiều rộng là 7,8m. Toàn bộ kết cấu gỗ của công trình được làm bằng gỗ lim gồm 4 chiếc cột cái lớn ở 4 góc chính giữa, xung quanh gồm có 12 cột con liên kết với cột cái theo kết cấu con chồng toả mái về 4 hướng. Đặc biệt trong lối kiến trúc này những người thợ xưa đã khéo léo dựng lên 4 cây cột cái lớn và cao, bên trên tạo thành một bộ 4 mái nhỏ cũng toả ra 4 phía và ngăn cách với bộ mái dưới bằng dải cổ diêm thông thoáng, kết hợp với các góc đao uốn lượn nhịp nhàng tạo như hình bông sen nở  rộng. Trên các kết cấu gỗ của công trình đều có chạm khắc hoa văn trang trí, tập trung chủ yếu trên các đầu bẩy, con chồng. Ngoài ra nghệ thuật trang trí kiến trúc còn được thể hiện ở lối vẽ bích hoạ trên những mảng tường cổ diêm, làm bằng chất liệu truyền thống( vôi,rơm, cát, mật). Mặt trước Tiền tế trên phần cổ diêm vẽ 4 Đại tự chữ Hán “Quang Nhạc Khí”, bên trong bốn mặt đều vẽ các chủ đề lưỡng long chầu nhật, “long, ly, quy, phượng”; “thông, cúc, trúc, mai” v.v. Trên hai câu đầu có khắc chữ Hán: “Hoàng triều Thành Thái thập tam niên tuế thứ Tân Sửu bát nguyệt cát nhật” cho thấy công trình đã được tu tạo vào ngày tốt tháng 8 năm Tân Sửu đời vua Thành Thái năm thứ 13 (1901). Hai bên mặt hồi công trình Tiền tế được xây tường kín chỉ duy có mặt trước được mở ra 3 cửa với những bộ ván ghép theo kiểu bức bàn. Bài trí đồ thờ trong Tiền tế khá đơn giản, phía trên xà hạ có treo một bức quấn thư chạm nổi 4 mỹ tự do vua ban tặng “Mỹ tục khả gia” và bài minh bằng chữ Hán. Bên gian hồi có đặc bộ kiệu bát cống khá lớn được chạm khắc cầu kỳ là hiện vật cổ làm đầu thế kỷ XX.

Phía sau Tiền tế là Đại đình gồm có 3 gian và 1 gian Hậu cung nối vào tạo bình đồ kiến trúc hình chữ Đinh. Công trình kiến trúc này mới được nhân dân tu tạo năm 1993 do đó có kết cấu kiến trúc nhỏ và đơn giản. Các cấu kiện vì kèo, cột đều làm bằng gỗ xoan bào trơn đóng bén. Hậu cung được xây như hình “chuôi vồ”, bên trong xây bệ thờ cao trên có đặt tượng 4 vị thành hoàng, ở giữa có một hòm sắc trong đựng 1 đạo sắc phong của vua Duy Tân ban tặng năm 1909. Trên cao trong cùng bày ngay ngắn bốn bộ bài vị trên có chạm khắc hoa văn, sơn son thếp vàng và ghi thần vị của các vị thần. Đây là những đồ thờ được tạo tác từ thời Nguyễn.

Ngoài các đồ tế tự nêu trên trong đình Lãm Dương còn lưu giữ nhiều tài liệu hiện vật khác phục vụ cho việc tế lễ, rước hội ...

Như chúng ta đã biết, đình Lãm Dương là trung tâm tín ngưỡng văn hoá của nhân dân địa phương, nơi thờ thành hoàng là 4 anh em đức Thánh Tam Giang. Căn cứ vào các tài liệu lịch sử và thần tích về Thánh Tam Giang cũng như hệ thống di tích trong vùng thì đây chính là quê hương phát tích của các ngài.... Chính nhờ vào những công lao to lớn đó mà các vị thánh Tam Giang đã được 372 làng trong xứ Kinh Bắc tôn thờ làm thành hoàng, trong đó Đình Lãm Dương vinh dự là một địa điểm trong quần thể các di tích ở quê hương của các Đức thánh. Hàng năm cứ đến ngày mồng 5 tháng Giêng, ngày 15 tháng Tư dân làng lại tổ chức hành hương, rước kiệu về làm lễ tế thần tại Đền Vân Mẫu. Trong những ngày diễn ra lễ hội dân làng thường tập trung ra đình tế lễ thành hoàng và tổ chức nhiều trò chơi dân gian độc đáo mang đậm bản sắc  văn hoá dân tộc.

9. Chùa Lãm Dương - Lãm Sơn tự

Chùa Lãm Dương vốn được khởi dựng từ lâu đời, đến thời Nguyễn, chùa được tôn tạo lạivà còn để lại dấu ấn kiến trúc điêu khắc.Trong kháng chiến chống Pháp, chùa bị phá dỡ hai gian thượng điện. Năm 1946 dân làng cùng đóng góp tiền của xây dựng lại chùa lấy nơi thờ phật. Đến năm 1995, dân làng phục dựng lại 2 gian thượng điện, trải qua thời gian, chùa vẫn tồn tại với vẻ khang trang như hiện nay.

Chùa Lãm Dương nằm trên thửa đất số 382/737. Chùa có hướng Đông Nam, bên phải chùa là đình, một công trình kiến trúc điêu khắc có giá trị được bảo lưu từ thời Nguyễn. Hiện tại di tích chùa Lãm Dương bao gồm các công trình Tam bảo, Nhà mẫu. Tam bảo có kết cấu kiến trúc kiểu chữ đinh gồm Tiền đường 3 gian, thượng điện 2 gian. Tiền đường 3 gian, bộ khung gỗ lim được liên kết bởi các bộ vì gồm 5 hàng cột dọc và 6 hàng cột ngang, mái ngói ta, tường hồi bít đốc theo kiểu bình đầu bít đốc tay ngai, hai cột đồng trụ 2 bên, cửa mở 3 gian hướng Bắc, trên tất cả con rường đều chạm nổi hoa lá cách điệu, tại gian giữa có chạm hai bức cốn chạm nổi kênh bong với đề tài Long Vân điêu luyện nghệ thuật. Thượng điện 2 gian, vì nóc kiểu con chồng giá chiêng, liên kết với 3 hàng cột dọc và 4 hàng cột ngang, tường hồi 2 bên và tường hậu xây bít đốc

Cũng giống như các ngôi chùa khác, chùa Lãm Dương thờ phật, thờ mẫu. Theo tư liệu lịch sử cho biết, đạo phật hình thành do thái tử Tất Đạt Đa con trai vua nước Tịnh Phạn xưa sáng lập. Năm 29 tuổi ngài xuất gia tu hành, đến năm 35 tuổi ngài đắc đạo, sau đó ngài đi hoằng pháp và gioá hoá chúng sinh, năm 80 tuổi ngài nhập niết bàn, sau này các giáo lý của ngài được các đề tử chép lại thành kinh nhà phật. Người truyền phật pháp vào Việt nam đầu tiên đó là 1 tăng sĩ Ấn Độ tên Bồ Đề Đạt Ma qua nhiều con đường khác nhau, điểm đầu tiên mà ngài tu luyện chính là vùng núi Phật Tích ngày nay, vì vậy ngài được người dân Việt nam coi là vị tổ thứ nhất vfa được thờ tại chùa. Trải thời gian, tập tục thờ mẫu được du nhập và ăn sâu vào đời sống người dân, vì vậy trong chùa còn có tục thờ mẫu, cầu cho mưa thuận gió hoà mùa màng bội thu , trong tục thờ mẫu có nơi thờ tam phủ, có nơi thờ tứ phủ.

Chùa là trung tâm sinh hoạt văn hoá cộng đồng. Ở đây các ngày tuần rằm, mồng một, các ngày lễ, tết nguyên đán, tết nguyên tiêu, vu lan báo hiếu, ngày Phật đản (15 tháng 4) rằm tháng Bảy...nhân dân địa phương tới chùa dâng lễ phật, gửi gắm ước vọng cho bản thân và gia đình.

10.Đình Vân Trại(Di tích LSVH cấp tỉnh- Quyết định số1802/QĐ-UBND ngày18/02/2007)

Đình vốn được khởi dựng từ lâu đời. Trong kháng chiến chống Pháp, đình đã bị phá hủy một phần, tuy nhiên đến năm 1972 nhân dân buộc phải dỡ bỏ tòa Đại bái, chỉ còn lại phần Hậu cung. Năm 1990 nhân dân địa phương phục dựng lại tòa Đại bái. Gần đây năm 2016 được xây dựng lại theo lối kiến trúc truyền thống và tồn tại đến nay.

Đình hiện tọa lạc trên diện tích đất 609m2. Đất đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng. Đình quay theo hướng Tây, các phía Bắc, Nam giáp nhà dân.

Đình hiện có kiến trúc kiểu chữ Nhất gồm tòa Đại bái 1 gian 2 chái4 mái đao cong. Bộ khung được làm bằng chất liệu mới to khỏe vững chãi liên kết bởi 4 hàng cột ngang và 2 hàng cột dọc. Bộ vì kết cấu theo kiểu “con chồng giá chiêng”. Hệ thống cửa mở ở 1 gian giữa theo kiểu “thượng song hạ bản”, hướng Tây. Phần mái lợp ngói.

Đình thờ Cao Sơn Đại Vương. Theo thần tích còn lưu giữ tại địa phương cho biết: Cao Sơn Đại Vương là vị tướng thời Hùng Vương có công đánh giặc Thục, được vua ban sắc phong “Hiệp Linh phù Chính phu uy quách tĩnh hùng tuấn trác vỹ cao sơn thượng đẳng thần”.

Lễ hội truyền thống tại đền được tổ chức từ ngày 12 tháng Giêng âm lịch hàng năm. Ngày chính hội nhân dân địa phương tổ chức tế lễ, dâng vật phẩm tế đức Thánh. Lễ hội có sự tham gia của đông đảo quần chúng nhân dân và chính quyền địa phương. Xưa kia trong lễ hội có tục kiêng đọc tên húy của đức thánh nhưng nay tục lệ này không còn được duy trì nữa. Sau phần lễ là phần hội với nhiều trò chơi dân gian và văn nghệ đặc sắc như: Hát quan họ trên thuyền, chọi gà, đấu vật, cờ tướng, tổ tôm điếm...

11. Chùa Vân Trại

Chùa vốn được khởi dựng từ lâu đời có quy mô kiến trúc to lớn, đến thời Nguyễn, chùa được tôn tạo lạivà còn để lại dấu ấn kiến trúc điêu khắc.Trong kháng chiến chống Pháp, chùa bị phá dỡ. Sau cách mạng tháng 8 năm 1945,dân làng cùng đóng góp tiền của xây dựng lại chùa lấy nơi thờ phật. Đến năm 1998, dân làng phục dựng lại chùa, trải qua thời gian, chùa vẫn tồn tại với vẻ khang trang như hiện nay.

Hiện tại chùa Vân Trạicó diện tích đất là1731m2. Chùa có hướng Tây Nam, xung quanh là khu dân cư đông đúc, trù mật, một công trình kiến trúc điêu khắc có giá trị mang phong cách truyền thống, cạnh chùa là núi Lãm Sơn, dãy núi chạy dài khoảng 2km, sườn núi bên kia là xã Nam Sơn gắn liền với hệ thống di tích từ thời Lý.

Hiện tại di tích chùa Vân Trại bao gồm các công trình Tam bảo, Nhà mẫu, Nhà Khách. Tam bảo có kết cấu kiến trúc kiểu chữ đinh gồm Tiền đường 3 gian, thượng điện 2 gian. Tiền đường 3 gian, bộ khung gỗ lim được liên kết bởi các bộ vì gồm 5 hàng cột dọc và 6 hàng cột ngang, mái ngói ta, tường hồi bít đốc theo kiểu bình đầu bít đốc tay ngai, hai cột đồng trụ 2 bên, cửa mở 3 gian hướng Bắc, trên tất cả con rường đều chạm nổi hoa lá cách điệu, tại gian giữa có chạm hai bức cốn chạm nổi kênh bong với đề tài Long Vân điêu luyện nghệ thuật. Thượng điện 2 gian, vì nóc kiểu con chồng giá chiêng, liên kết với 3 hàng cột dọc và 4 hàng cột ngang, tường hồi 2 bên và tường hậu xây bít đốc.

Nhà mẫu: 1 gian, nằm bên trái toà tam bảo, kiến trúc vì kèo đơn giản, quá giang gác tường.

Nhà khách: 5 gian nằm bên trái toà tam bảo, kết cấu vì kèo đơn giản, quá giang gác tường.

Cũng giống như các ngôi chùa khác, chùa Lãm Dương thờ phật, thờ mẫu. Theo tư liệu lịch sử cho biết, đạo phật hình thành do thái tử Tất Đạt Đa con trai vua nước Tịnh Phạn xưa sáng lập. Năm 29 tuổi ngài xuất gia tu hành, đến năm 35 tuổi ngài đắc đạo, sau đó ngài đi hoằng pháp và gioá hoá chúng sinh, năm 80 tuổi ngài nhập niết bàn, sau này các giáo lý của ngài được các đề tử chép lại thành kinh nhà phật. Người truyền phật pháp vào Việt nam đầu tiên đó là 1 tăng sĩ Ấn Độ tên Bồ Đề Đạt Ma qua nhiều con đường khác nhau, điểm đầu tiên mà ngài tu luyện chính là vùng núi Phật Tích ngày nay, vì vậy ngài được người dân Việt nam coi là vị tổ thứ nhất vfa được thờ tại chùa. Trải thời gian, tập tục thờ mẫu được du nhập và ăn sâu vào đời sống người dân, vì vậy trong chùa còn có tục thờ mẫu, cầu cho mưa thuận gió hoà mùa màng bội thu , trong tục thờ mẫu có nơi thờ tam phủ, có nơi thờ tứ phủ.

Chùa là trung tâm sinh hoạt văn hoá cộng đồng. Ở đây các ngày tuần rằm, mồng một, các ngày lễ, tết nguyên đán, tết nguyên tiêu, vu lan báo hiếu, ngày Phật đản (15 tháng 4) rằm tháng Bảy...nhân dân địa phương tới chùa dâng lễ phật, gửi gắm ước vọng cho bản thân và gia đình.

Nguồn: UBND phường Vân Dương