Tổ chức bộ máy Tổ chức bộ máy

QUY CHẾ LÀM VIỆC Của Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố khoá XXI, nhiệm kỳ 2015-2020

30/05/2017 10:18 Số lượt xem: 19

CHƯƠNG I. TRÁCH NHIỆM, QUYỀN HẠN CỦA BCH ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ, BAN THƯỜNG VỤ VÀ THƯỜNG TRỰC THÀNH UỶ

Điều 1: Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố:

Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố (gọi tắt là Thành uỷ) là cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng bộ Thành phố giữa hai kỳ Đại hội.

- Thành uỷ có nhiệm vụ lãnh đạo toàn diện các mặt công tác của Đảng bộ Thành phố và là hạt nhân lãnh đạo hệ thống chính trị của Thành phố được quy định tại Điều lệ Đảng, các quyết định, hướng dẫn của Trung ương. Lãnh đạo bằng Nghị quyết và chủ trương thông qua sự hoạt động, chỉ đạo của Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Thành uỷ. Những vấn đề sau đây phải đưa ra Ban Chấp hành thảo luận và quyết định:

1- Phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu, chủ trương và biện pháp về quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội dài hạn, những vấn đề quan trọng về an ninh, quốc phòng, về xây dựng Đảng, chính quyền và công tác vận động quần chúng ở Thành phố. Dự toán ngân sách và biện pháp thực hiện thu, chi ngân sách của Thành phố. Thông qua ngân sách Đảng của Thành uỷ.

2- Báo cáo tình hình thực hiện và phương hướng phát triển kinh tế - xã hội 6 tháng, hàng năm của UBND Thành phố.

3- Quán triệt và bàn các chủ trương, biện pháp thực hiện các Nghị quyết của Trung ương, Tỉnh uỷ và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố.

4- Quyết định các vấn đề về chủ trương trong công tác tổ chức cán bộ theo quy định của cấp trên. Quyết định và giới thiệu cán bộ ứng cử các chức danh chủ chốt của HĐND và UBND Thành phố, nhân sự bổ sung Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố, Bí thư, Phó bí thư, Uỷ viên Ban Thường vụ Thành uỷ, xét thi hành kỷ luật với các đồng chí Thành uỷ viên. Nghe báo cáo và cho ý kiến về tình hình hoạt động của Ban Thường vụ Thành uỷ, theo định kỳ hàng quý, 6 tháng và hàng năm. Nghe và cho ý kiến về công tác kiểm tra, giám sát và thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát ở Đảng bộ Thành phố của Ủy ban kiểm tra Thành uỷ 6 tháng, hàng năm và hoạt động của các cơ quan Đảng, chính quyền, đoàn thể ở Thành phố theo đề nghị của Ban Thường vụ Thành uỷ.

5- Chuẩn bị và triệu tập Đại hội đại biểu Đảng bộ Thành phố, chuẩn bị văn kiện và nhân sự Đại hội. Căn cứ các quy định hướng dẫn của Trung ương, Tỉnh uỷ chuẩn bị báo cáo Tỉnh uỷ về số lượng Uỷ viên Ban Chấp hành, Ban Thường vụ, Uỷ viên Uỷ ban kiểm tra, Chủ nhiệm, Phó chủ nhiệm UBKT Thành uỷ; Bầu Uỷ viên Ban Thường vụ, Bí thư, các Phó bí thư, Uỷ viên Ủy ban kiểm tra, Chủ nhiệm Uỷ viên Ủy ban kiểm tra Thành uỷ. Lãnh đạo và tổ chức Đại hội theo quy định của cấp trên.

6- Tổng kết công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Thành uỷ, tiến hành kiểm điểm tự phê bình và phê bình hàng năm theo quy định.

7- Quyết định phân công công tác cho các đồng chí Uỷ viên Ban Thường vụ và các đồng chí Thành uỷ viên, Ủy viên Uỷ ban kiểm tra Thành ủy.

Điều 2: Ban Thường vụ Thành uỷ:

Ban Thường vụ Thành uỷ làm việc theo chế độ tập thể. Ban Thường vụ là cơ quan lãnh đạo của Thành uỷ giữa hai kỳ hội nghị của Ban Chấp hành. Ban Thường vụ có trách nhiệm và quyền hạn sau đây:

1- Cụ thể hoá và tổ chức thực hiện các Nghị quyết, Chỉ thị của Trung ương, Tỉnh uỷ và Thành uỷ. `Quyết định chủ trương, biện pháp quan trọng nhằm thực hiện các Nghị quyết, Chỉ thị của cấp trên và của Thành uỷ. Những vấn đề đột xuất, cấp bách, thuộc trách nhiệm quyết định của Thành uỷ, không kịp họp Ban Chấp hành thì tập thể Ban Thường vụ bàn quyết định và báo cáo lại Ban Chấp hành tại hội nghị gần nhất và chịu trách nhiệm trước Ban Chấp hành về những quyết định đó.

2- Cho ý kiến chỉ đạo về hoạt động của Thường trực Thành uỷ, HĐND, UBND, MTTQ và các đoàn thể nhân dân. Chịu trách nhiệm trước Thành uỷ về công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ Thành phố.

3- Xem xét, quyết định những vấn đề về công tác tổ chức cán bộ theo Quyết định số 67-QĐ/TW ngày 4/7/2007 của Bộ Chính trị và Quyết định số 404-QĐ/TU ngày 26/11/2007 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Bắc Ninh về phân cấp quản lý cán bộ và Quyết định số 405-QĐ/TU ngày 26/11/2007 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về việc ban hành quy chế bổ nhiệm cán bộ và giới thiệu cán bộ ứng cử.

+ Quyết định, bố trí phân công công tác, giới thiệu ứng cử, chỉ định, quy hoạch, đánh giá, đào tạo bồi dưỡng; bổ nhiệm, miễn nhiệm, bổ nhiệm lại, luân chuyển, điều động; khen thưởng, kỷ luật; nghỉ hưu, nâng lương và thực hiện các chế độ khác đối với các cán bộ thuộc diện Ban Thường vụ Thành uỷ quản lý gồm: Trưởng ban, Phó trưởng ban, cơ quan của Thành uỷ, Ủy viên Ủy ban kiểm tra Thành ủy; trưởng, phó các phòng và các đơn vị Thành phố; cấp Trưởng, cấp Phó MTTQ và các đoàn thể nhân dân; Bí thư, Phó bí thư, Uỷ viên Ban Thường vụ Đảng uỷ; Chủ tịch, Phó chủ tịch HĐND; Chủ tịch, Phó chủ tịch UBND các xã, phường. (Các chức danh khác ở xã, phường do Đảng uỷ xã, phường quản lý)

+ Trao đổi, thoả thuận, điều động, bổ nhiệm lại cán bộ đối với các đơn vị thuộc ngành dọc cấp trên quản lý. Duyệt nhân sự Trưởng Ban, Phó trưởng Ban, đại biểu HĐND, Uỷ viên UBND, Uỷ viên Ban Chấp hành, Ban Thường vụ các đoàn thể nhân dân Thành phố, cấp uỷ tổ chức cơ sở đảng, Uỷ viên Ban Thường vụ Đảng uỷ, Bí thư, Phó bí thư các chi, đảng bộ trực thuộc.

+ Chuẩn bị để trình Ban Thường vụ Tỉnh uỷ bố trí, phân công công tác, nhận xét, đánh giá, bổ nhiệm, miễn nhiệm, giải quyết lương… đối với các chức danh cán bộ thuộc quyền quản lý của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ; các trường hợp bổ nhiệm lần đầu quá tuổi quy định.

+ Chủ trì phối hợp trao đổi ý kiến với các Ban Đảng, Ban cán sự Đảng đoàn các cơ quan của Tỉnh có liên quan về giới thiệu ứng cử và bố trí bổ nhiệm, miễn nhiệm, kỷ luật đối với Trưởng ban, Trưởng phòng, Chủ tịch Uỷ ban MTTQ, Trưởng các đoàn thể nhân dân ở Thành phố. Khi có ý kiến khác nhau Ban Thường vụ Thành uỷ thảo luận và quyết định.

+ Quyết định kiểm tra, giám sát công tác cán bộ của các cấp uỷ, tổ chức Đảng trực thuộc Thành uỷ.

+ Xem xét quyết định giải thể và thành lập mới các tổ chức cơ sở Đảng trực thuộc. Cho chủ trương giải thể, sáp nhập thành lập mới cơ quan, đơn vị thuộc UBND Thành phố theo hướng dẫn của cấp trên.

+ Chuẩn y cấp uỷ cơ sở, Ban Thường vụ, Bí thư, Phó bí thư Đảng uỷ, Uỷ viên Ủy ban kiểm tra, Chủ nhiệm, Phó chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra Đảng uỷ trực thuộc. Chỉ định bổ sung cấp uỷ viên, Bí thư, Phó bí thư chi, đảng bộ trực thuộc theo quy định của Điều lệ Đảng.

+ Giới thiệu cán bộ để HĐND, UBND, UBMTTQ và các đoàn thể nhân dân Thành phố bầu vào các chức danh: Trưởng ban, Phó trưởng ban, đại biểu HĐND, Uỷ viên UBND, Uỷ viên Ban Chấp hành, Ban Thường vụ các đoàn thể nhân dân Thành phố.

+ Giới thiệu một số chức danh chủ chốt của các cơ quan đơn vị có tổ chức Đảng trực thuộc.

+ Chuẩn bị báo cáo Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố về nhân sự đề nghị Ban Thường vụ Tỉnh uỷ xem xét đối với các chức danh thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh uỷ quản lý; nhân sự bổ sung Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố, Uỷ viên Ban Thường vụ, Uỷ viên Uỷ ban kiểm tra, Chủ nhiệm, Phó chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra Thành uỷ.

+ Thỏa thuận, hiệp y khen thưởng thành tích cao.

+ Giúp cấp uỷ cấp trên nắm và quan tâm đến các đồng chí cán bộ lão thành cách mạng, cán bộ “Tiền khởi nghĩa” và các đồng chí được tặng huy hiệu Đảng. Các đồng chí nguyên Bí thư, Phó bí thư, Thường vụ Thành uỷ; nguyên Chủ tịch, Phó chủ tịch HĐND và UBND Thành phố đã nghỉ hưởng chế độ bảo hiểm xã hội.

4- Tổ chức chỉ đạo sự phối hợp giữa các tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể về các mặt công tác trên địa bàn Thành phố. Chỉ đạo kiểm tra việc thực hiện Nghị quyết của Trung ương, Tỉnh uỷ và Thành uỷ. Tiến hành sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm việc thực hiện những nhiệm vụ công tác của cấp uỷ.

5- Quyết định kiểm tra, biểu dương, khen thưởng và kỷ luật đối với tổ chức Đảng và đảng viên. Xét khen thưởng thành tích cao. Quyết định kết nạp đảng viên, chuyển đảng chính thức, xoá tên và chấp thuận đơn xin ra khỏi Đảng của đảng viên theo quy định của Điều lệ Đảng.

6- Chuẩn bị nội dung và triệu tập các hội nghị của Ban Chấp hành. Báo cáo tình hình các mặt công tác và những công việc đã giải quyết với Ban Chấp hành. Báo cáo tình hình các mặt công tác của Đảng bộ Thành phố với Tỉnh uỷ theo quy định. Chỉ đạo kiểm tra, giám sát cấp uỷ, tổ chức Đảng và đảng viên trong việc thực hiện chủ trương, Nghị quyết, Chỉ thị của Trung ương, Tỉnh uỷ và Thành uỷ.

7- Chuẩn bị phương án nhân sự Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố để báo cáo Thành uỷ và cấp trên. Báo cáo và đề nghị cấp trên những vấn đề về tổ chức, cán bộ thuộc thẩm quyền cấp trên quản lý.

8- Nghe UBND Thành phố báo cáo tình hình nhiệm vụ kinh tế - xã hội 6 tháng, hàng năm, các đề án, kế hoạch, chương trình công tác trước khi trình Thành uỷ.

Điều 3: Thường trực Thành ủy:

Thường trực Thành uỷ gồm Bí thư và các Phó bí thư. Thường trực Thành uỷ được Ban Chấp hành và Ban Thường vụ Thành uỷ uỷ quyền thay mặt Thành uỷ giải quyết công việc hàng ngày của Thành uỷ.

Thường trực Thành uỷ có trách nhiệm và quyền sau đây:

1- Chỉ đạo tổ chức kiểm tra, giám sát việc thực hiện Nghị quyết, Chỉ thị của Trung ương, Tỉnh uỷ và Thành uỷ.

2- Chỉ đạo chuẩn bị nội dung, chương trình làm việc của Ban Thường vụ và Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố. Quyết định những vấn đề cần đưa ra Hội nghị Ban Thường vụ hoặc Ban Chấp hành để thảo luận, quyết định.

3- Theo dõi, kiểm tra, chỉ đạo sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan Thường trực HĐND, UBND, các ban, ngành, đoàn thể, các tổ chức Đảng trực thuộc trong việc thực hiện các chương trình, kế hoạch công tác của Ban Thường vụ, Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố, tập hợp báo cáo kết quả công tác với Ban Thường vụ, Ban Chấp hành và báo cáo cấp trên theo quy định.

4- Được Thành uỷ và Ban Thường vụ giao quyền xem xét, đề nghị và quyết định một số vấn đề về công tác tổ chức cán bộ cụ thể:

- Xét tiếp nhận, điều động, nâng lương, giải quyết chính sách đối với cán bộ, nhân viên thuộc cơ quan Thành uỷ, MTTQ và các đoàn thể nhân dân Thành phố (Trừ các trường hợp phải báo cáo Thành uỷ và Ban Thường vụ, theo điều 1 và 2 của quy chế này).

- Xem xét và cho ý kiến thoả thuận về công tác cán bộ đối với các trường hợp là cán bộ cấp phó ban, ngành thuộc thẩm quyền quản lý của ngành dọc cấp trên không thuộc diện Thành uỷ quản lý trực tiếp.

- Xem xét quyết định việc đổi tên các tổ chức cơ sở đảng, bàn giao và tiếp nhận tổ chức đảng theo quy định của Trung ương và Tỉnh uỷ.

5- Các đồng chí Thường trực có trách nhiệm thường xuyên trao đổi để giải quyết kịp thời mọi công việc ở Đảng bộ Thành phố nhất là những việc mới phát sinh. Giải quyết các công việc được Ban Thường vụ uỷ nhiệm.

6- Hàng tuần Thường trực Thành uỷ giao ban 1 lần hoặc đột xuất để nghe tình hình trong tuần và bàn công việc tuần sau.

7- Quyết định triệu tập và chuẩn bị nội dung các kỳ họp của Ban Thường vụ.

8- Thường trực Thành uỷ uỷ quyền cho thủ trưởng các cơ quan, ban, ngành, MTTQ và các đoàn thể nhân dân Thành phố giải quyết nghỉ phép cho cán bộ, chuyên viên thuộc quyền quản lý theo quy định của Đảng và nhà nước; nghỉ khi có việc riêng không quá 03 ngày, báo cáo và phải chịu trách nhiệm trước Thường trực Thành uỷ về công việc đã được giao của cơ quan, đơn vị.

CHƯƠNG II. TRÁCH NHIỆM VÀ QUYỀN HẠN CỦA CÁ NHÂN

Điều 4: Các đồng chí Uỷ viên Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố:

Các đồng chí uỷ viên Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố (gọi tắt là Thành uỷ viên) có trách nhiệm và quyền hạn:

1- Tham gia đầy đủ các kỳ họp của Thành uỷ, nếu vắng mặt thì phải báo cáo và được sự đồng ý của đồng chí Bí thư hoặc Phó bí thư Thường trực Thành uỷ. Tham gia vào sự lãnh đạo tập thể của Thành uỷ. Thảo luận, biểu quyết những công việc chung của Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố.

2- Quán triệt đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, các Nghị quyết, Chỉ thị của Trung ương, của Tỉnh uỷ và Thành uỷ. Tổ chức thực hiện các Nghị quyết, Chỉ thị của Trung ương, Tỉnh uỷ, Thành uỷ và quy định của ngành cấp trên thuộc ngành, đơn vị trực tiếp phụ trách.

3- Nêu cao tinh thần trách nhiệm, thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ công tác được phân công. Thường xuyên sâu sát cơ sở, gắn bó mật thiết với đảng viên và nhân dân nắm bắt tình hình, phát hiện những vấn đề nảy sinh, nhất là ở ngành, đơn vị mình phụ trách để chủ động giải quyết và đề xuất ý kiến với Ban Thường vụ và Thường trực Thành uỷ.

4- Các đồng chí Thành uỷ viên trước khi được Ban Thường vụ Thành uỷ phân công công tác được đề đạt nguyện vọng của mình, khi đã quyết định phải nghiêm chỉnh chấp hành và làm tốt chức trách được phân công. Khi cần, Thành uỷ hoặc Ban Thường vụ Thành uỷ phân công phụ trách hoặc theo dõi một số công việc cụ thể khác. Có trách nhiệm tham gia xây dựng tổ chức Đảng vững mạnh ở khối, ngành, đơn vị, xã, phường mình phụ trách.

5- Cùng với cấp uỷ cơ sở kiểm tra, giám sát và tổng kết việc thực hiện Nghị quyết của Đảng trong lĩnh vực được phân công phụ trách.

6- Trong sinh hoạt của Thành uỷ, mỗi đồng chí Thành uỷ viên nêu cao tinh thần tự phê bình và phê bình trên tinh thần đồng chí giúp nhau cùng tiến bộ. Bản thân và gia đình gương mẫu thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống trong sạch, nói đi đôi với làm. Kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí. Luôn phấn đấu, ra sức học tập, rèn luyện phẩm chất, nâng cao trình độ mọi mặt và năng lực công tác.

7- Hàng ngày các đồng chí Thành uỷ viên thực hiện nhiệm vụ theo chức trách nhiệm vụ và quyền hạn được giao, giữ nghiêm kỷ luật phát ngôn và chỉ được phép thay mặt Thành uỷ khi được sự uỷ nhiệm của Ban Chấp hành,  Ban Thường vụ hoặc Thường trực Thành uỷ.

8- Được thông tin đầy đủ về tình hình chung của Đảng bộ Thành phố và các vấn đề cần thiết khác. Có quyền chất vấn hoạt động của Thường trực, Ban Thường vụ và các uỷ viên Ban Chấp hành khác và được trả lời theo quy định của Đảng.

Điều 5: Các đồng chí Uỷ viên Ban Thường vụ Thành uỷ:

Các đồng chí uỷ viên Ban Thường vụ Thành uỷ ngoài trách nhiệm và quyền hạn của Thành uỷ viên còn có trách nhiệm và quyền hạn sau:

1- Tham gia đầy đủ các kỳ họp của Ban Thường vụ Thành uỷ, Ban Chấp hành, thảo luận và biểu quyết các công việc thuộc thẩm quyền của Ban Thường vụ Thành uỷ, Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố.

2- Các đồng chí uỷ viên Ban Thường vụ Thành uỷ được phân công phụ trách ban, ngành, đơn vị chịu trách nhiệm trước Thành uỷ và ngành cấp trên về các mặt công tác thuộc lĩnh vực chuyên môn của ban, ngành, đơn vị đó. Các đồng chí uỷ viên Ban thường vụ được phân công phụ trách các Ban của Thành uỷ được thay mặt Ban thường vụ và Thành uỷ giải quyết công việc chuyên môn hàng ngày theo quy định. Những vấn đề thuộc quyền quyết định của Thành uỷ phải báo cáo xin ý kiến đồng chí Bí thư hoặc Phó bí thư thường trực.

3- Các đồng chí uỷ viên Ban Thường vụ Thành uỷ được phân công phụ trách các Đảng bộ xã, phường, đơn vị cơ sở, phụ trách khối… có trách nhiệm giúp Ban Thường vụ Thành uỷ theo dõi, chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương, Tỉnh uỷ, Thành uỷ đối với các đơn vị đó. Cùng với các đồng chí Thành uỷ viên và lãnh đạo chủ chốt các ngành, đơn vị liên quan phối hợp hoạt động trong ngành, khối, đơn vị bảo đảm thực hiện tốt nhiệm vụ được giao và chịu trách nhiệm trước Ban Thường vụ Thành uỷ về các hoạt động trong phạm vi ngành, khối, đơn vị mình phụ trách.

4- Có trách nhiệm tham gia đóng góp vào sự lãnh đạo tập thể của Ban Thường vụ Thành uỷ, chịu trách nhiệm chính trong chỉ đạo, vận dụng, cụ thể hoá Nghị quyết, Chỉ thị của cấp trên, của Thành uỷ đối với lĩnh vực mình phụ trách, có kế hoạch, biện pháp cụ thể tổ chức thực hiện có kết quả những Nghị quyết, Chỉ thị đó.

5- Thường xuyên kiểm tra, báo cáo với Ban Thường vụ, Bí thư, Phó bí thư Thành uỷ những vấn đề trong lĩnh vực được phân công phụ trách và các lĩnh vực khác. Đề xuất những mặt tốt cần phát huy hoặc biện pháp giải quyết những vấn đề tồn tại.

6- Các đồng chí Uỷ viên Ban Thường vụ phụ trách công tác chính quyền thực hiện theo quy chế hoạt động của chính quyền, giữ vững mối quan hệ chặt chẽ với các Ban của Thành uỷ, MTTQ và các đoàn thể nhân dân. Nếu có vấn đề liên quan đến các Ban của Thành uỷ thì trao đổi thống nhất với đồng chí uỷ viên Ban Thường vụ - phụ trách các Ban. Cùng với các Ban của Thành uỷ quan tâm công tác xây dựng Đảng và công tác cán bộ trong ngành, khối, đơn vị được phân công phụ trách.

Điều 6: Đồng chí Bí thư Thành uỷ:

Đồng chí Bí thư Thành uỷ giữ trọng trách chủ trì công việc của Ban Chấp hành Đảng bộ và Ban Thường vụ Thành uỷ, có trách nhiệm và quyền hạn sau:

1- Thực hiện đầy đủ nhiệm vụ và quyền hạn của Thành uỷ viên và Uỷ viên Ban Thường vụ Thành uỷ. Giữ vai trò trung tâm đoàn kết trong Ban Chấp hành, Ban Thường vụ và Thường trực Thành uỷ. Nắm vững quan điểm, đường lối, chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các Nghị quyết, Chỉ thị của cấp trên, Nghị quyết của Đại hội Đảng bộ Thành phố, của Thành uỷ và Ban Thường vụ Thành uỷ vận dụng đúng đắn, sáng tạo, sát với thực tiễn của Thành phố. Đề xuất định hướng những vấn đề cần thiết để Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Thành uỷ thảo luận và quyết định.

2- Trực tiếp nắm và chỉ đạo các nhiệm vụ trọng tâm và những vấn đề về quốc phòng, an ninh, công tác xây dựng Đảng, công tác tư tưởng, tổ chức, kiểm tra; công tác quy hoạch, bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ cán bộ của Thành phố.

3- Chỉ đạo việc chuẩn bị nội dung các kỳ họp của Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Thành uỷ. Chủ trì các kỳ họp của Ban Chấp hành, Ban Thường vụ và kết luận các vấn đề được thảo luận ở hội nghị Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Thành uỷ. Duy trì và nâng cao chất lượng các kỳ họp của cấp uỷ bảo đảm thực sự dân chủ, đúng nguyên tắc, đúng quy chế. Phát huy tinh thần trách nhiệm và trí tuệ của tập thể cũng như của mỗi đồng chí cấp uỷ viên vào sự lãnh đạo chung. Tổ chức và chủ trì giao ban Thường trực Thành uỷ và Thường trực Thành uỷ với Thường trực HĐND, UBND để giải quyết các công việc của Đảng bộ Thành phố. Kiểm tra việc tổ chức thực hiện các Nghị quyết của Ban Chấp hành và Ban Thường vụ Thành uỷ.

4- Chỉ đạo các đồng chí Phó bí thư giải quyết các công việc hàng ngày của Đảng bộ Thành phố, thay mặt Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Thành uỷ ký các Nghị quyết, Chỉ thị và các văn bản của Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Thành uỷ.

Điều 7: Đồng chí Phó bí thư thường trực Thành uỷ:

Đồng chí Phó bí thư Thường trực Thành uỷ (phụ trách công tác Đảng, đoàn thể) có trách nhiệm và quyền hạn sau đây:

1- Thực hiện đầy đủ nhiệm vụ và quyền hạn của Uỷ viên Ban Chấp hành, Uỷ viên Ban Thường vụ Thành uỷ. Chịu trách nhiệm trước Ban Chấp hành, Ban Thường vụ và đồng chí Bí thư Thành uỷ trong việc điều hành công tác Đảng hàng ngày theo quyết định của Ban Thường vụ Thành uỷ. Thường xuyên báo cáo tình hình công việc đã giải quyết với đồng chí Bí thư Thành uỷ. đề xuất với đồng chí Bí thư Thành uỷ và Ban Thường vụ những vấn đề cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo. Trực tiếp chỉ đạo xây dựng các chương trình, kế hoạch công tác của Ban Chấp hành và Ban Thường vụ Thành uỷ, điều hành các công việc theo chương trình kế hoạch đó.

2- Chịu trách nhiệm trước Ban Chấp hành, Ban Thường vụ, Thường trực và đồng chí Bí thư Thành uỷ tổ chức việc quán triệt, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện Nghị quyết, Chỉ thị của cấp trên, của Ban Chấp hành và Ban Thường vụ Thành uỷ.

3- Chịu trách nhiệm trước Ban Chấp hành, Ban Thường vụ, Thường trực và đồng chí Bí thư Thành uỷ chỉ đạo chuẩn bị nội dung các kỳ họp của Ban Chấp hành và Ban Thường vụ Thành uỷ.

4- Cùng với đồng chí Bí thư, đồng chí Phó bí thư - Chủ tịch UBND Thành phố thống nhất chương trình công tác trong từng thời gian, bảo đảm phối hợp nhịp nhàng giữa sự lãnh đạo của Đảng và chỉ đạo thực hiện của chính quyền.

5- Trực tiếp điều hành các công việc của Cơ quan Thành uỷ và phụ trách Văn phòng Thành uỷ, phối hợp chặt chẽ giữa Thường trực Thành uỷ, Thường trực HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ và các đoàn thể của Thành phố.

6- Thông tin kịp thời tình hình và chủ trương của Ban Chấp hành, Ban Thường vụ cho các đồng chí Thành uỷ viên và các cơ quan, đơn vị trực thuộc của Đảng bộ Thành phố.

7- Phụ trách chỉ đạo các hoạt động công tác Dân vận, MTTQ và các đoàn thể nhân dân Thành phố.

8- Thay mặt đồng chí Bí thư Thành uỷ giải quyết công việc khi đồng chí Bí thư đi vắng hoặc được uỷ nhiệm.

Điều 8: Đồng chí Phó Bí thư (phụ trách chính quyền):

Đồng chí Phó bí thư có trách nhiệm và quyền hạn sau đây:

1- Thực hiện đầy đủ nhiệm vụ và quyền hạn của Uỷ viên Ban Chấp hành, Uỷ viên Ban Thường vụ Thành uỷ. Chịu trách nhiệm trước Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Thành uỷ và đồng chí Bí thư về công tác chính quyền và quản lý Nhà nước trên địa bàn Thành phố. Quán triệt các Nghị quyết của Trung ương, Tỉnh uỷ, Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Thành uỷ để cụ thể hoá và thể chế hoá thành kế hoạch, đề án, chương trình hành động của UBND Thành phố, tổ chức triển khai thực hiện, phát huy hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước.

2- Thực hiện chức năng nhiệm vụ của Chủ tịch UBND theo quy định của pháp luật và Quy chế làm việc của HĐND, UBND Thành phố.

3- Cùng với Ban Chấp hành xây dựng kiện toàn bộ máy chính quyền của Thành phố. Xem xét đề xuất với Ban Thường vụ hoặc Ban Chấp hành quyết định việc bố trí cán bộ chủ chốt thuộc phạm vi quản lý của Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Thành uỷ.

4- Thường xuyên thực hiện chế độ giao ban Thường trực Thành uỷ để giải quyết công việc chung và đề xuất những công việc cần thiết để tập trung sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất. Chỉ đạo chuẩn bị các nội dung, đề án kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh để đưa ra hội nghị Ban Chấp hành hoặc Ban Thường vụ Thành uỷ thảo luận, quyết định. Thường xuyên phản ánh tình hình với đồng chí Bí thư, trao đổi với đồng chí Phó bí thư Thường trực và báo cáo Ban Thường vụ Thành uỷ về các mặt hoạt động của chính quyền. Phối hợp chặt chẽ với đồng chí Phó bí thư Thường trực chỉ đạo, điều hoà công tác giữa Thành uỷ và HĐND, UBND Thành phố.

5- Thay mặt đồng chí Bí thư giải quyết các công việc được phân công hoặc được Bí thư uỷ nhiệm.

CHƯƠNG III. SỰ LÃNH ĐẠO CỦA THÀNH UỶ ĐỐI VỚI HĐND, UBND, ỦY BAN MTTQ, CÁC ĐOÀN THỂ CỦA THÀNH PHỐ; CÁC BAN, CƠ QUAN CỦA THÀNH UỶ VÀ CÁC TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG.

Điều 9: Đối với HĐND và UBND Thành Phố:

HĐND, UBND Thành phố chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Thành uỷ và Ban Thường vụ Thành uỷ; có trách nhiệm cụ thể hoá Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ XXI, chủ trương, Nghị quyết của Thành uỷ, Ban Thường vụ Thành uỷ và của cấp trên để tổ chức chỉ đạo thực hiện theo quy định của Điều lệ Đảng, Luật tổ chức HĐND và UBND, hướng dẫn của Trung ương và của Tỉnh uỷ, HĐND, UBND Tỉnh.

- Trước khi thực hiện các Nghị quyết, Chỉ thị, chính sách chế độ của Đảng và nhà nước, những vấn đề có liên quan trực tiếp đến đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của cán bộ, đảng viên và nhân dân Thành phố, UBND Thành phố phải báo cáo Ban Thường vụ Thành uỷ hoặc Thành uỷ.

- HĐND, UBND Thành phố có trách nhiệm thực hiện nghị quyết của Thành uỷ, Ban Thường vụ Thành uỷ về kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh, tổ chức bộ máy, nhân sự thuộc HĐND, UBND Thành phố và các cơ quan trực thuộc.

- Thường trực Thành uỷ chỉ đạo Thường trực HĐND Thành phố chuẩn bị trình Ban thường vụ Thành uỷ cho ý kiến về những định hướng chủ trương quan trọng trong chương trình các kỳ họp và những quyết định của HĐND về kinh tế - xã hội, thu, chi ngân sách, quốc phòng, an ninh, những vấn đề liên quan đến đời sống của nhân dân, những vấn đề về tổ chức và cán bộ, về nhân sự thuộc diện quản lý của Ban Thường vụ Thành uỷ trước khi trình HĐND Thành phố quyết định.

Trong quá trình chuẩn bị những vấn đề trên, Thường trực HĐND, UBND Thành phố chủ động lựa chọn những vấn đề quan trọng hoặc nhạy cảm để báo cáo xin ý kiến trước với Thường trực Thành uỷ.

Điều 10: Xây dựng bộ máy Nhà nước và bố trí cán bộ các cơ quan chính quyền Thành phố:

- Trong việc lãnh đạo xây dựng bộ máy các cơ quan chính quyền Thành phố, Ban Thường vụ nêu quan điểm, nguyên tắc, phương hướng và lãnh đạo, chỉ đạo cấp uỷ cơ sở quán triệt thực hiện.

- Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Thành uỷ quyết định nhân sự thuộc diện Thành uỷ quản lý (Bố trí, đề bạt, luân chuyển, nâng lương, kỷ luật, giải quyết chế độ, chính sách…). Đối với cán bộ thuộc diện Tỉnh uỷ và cấp trên quản lý, Ban Thường vụ, Thường trực Thành uỷ đề xuất với cấp trên để cấp trên xem xét quyết định.

Trước khi Ban Chấp hành, Ban Thường vụ hoặc Thường trực Thành uỷ quyết định, các Ban xây dựng Đảng, cơ quan thuộc Thành uỷ, UBND Thành phố và các cơ quan chức năng cần phối hợp chuẩn bị nội dung, ý kiến đề xuất, báo cáo theo trình tự tuyển chọn, bố trí cán bộ và các yêu cầu do cấp uỷ và cấp trên quy định.

          Điều 11: Đối với các phòng, ban, cơ quan trực thuộc UBND Thành phố:

- Thành uỷ và Ban Thường vụ Thành uỷ lãnh đạo, chỉ đạo các phòng, ban, cơ quan trực thuộc UBND Thành phố thông qua các tổ chức Đảng và đảng viên; khi cần thiết, thủ trưởng các phòng, ban, cơ quan báo cáo trực tiếp với Thường trực Thành uỷ hoặc Ban Thường vụ Thành uỷ.

- Hàng tháng, hàng quý các phòng, ban, cơ quan trực thuộc UBND Thành phố phải báo cáo bằng văn bản về tình hình và nhiệm vụ công tác với Thường trực Thành uỷ. Các phòng, ban, cơ quan thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm, đột xuất phải báo cáo với Thường trực Thành uỷ (qua Văn phòng Thành uỷ).

- Các báo cáo được sao gửi tới các ban, ngành có liên quan và các đồng chí Uỷ viên Ban Thường vụ Thành uỷ phụ trách khối.

Điều 12: Đối với công tác quốc phòng - an ninh:

Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố, Ban Thường vụ, Thường trực Thành uỷ lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện, trực tiếp về công tác quốc phòng - an ninh của Thành phố.

UBND Thành phố căn cứ các Nghị quyết, Chỉ thị của cấp trên, của Thành uỷ, Ban Thường vụ Thành uỷ để chỉ đạo, giải quyết đối với công tác quốc phòng - an ninh theo thẩm quyền đã được quy định.

Điều 13: Đối với Viện kiểm sát nhân dân và Toà án nhân dân Thành phố:

- Viện kiểm sát nhân dân và Toà án nhân dân Thành phố hoạt động tuân theo Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước và hoạt động dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Thành uỷ và Ban Thường vụ Thành uỷ.

- Ban Thường vụ Thành uỷ lãnh đạo, chỉ đạo Viện kiểm sát nhân dân và Toà án nhân dân bằng cách cho ý kiến thông qua cấp uỷ, các đồng chí là lãnh đạo và đảng viên ở đơn vị đó, đồng thời thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát của Đảng với tổ chức Đảng và đảng viên.

- Khi xét xử các vụ án mà người phạm tội là cán bộ, đảng viên thuộc diện Thành uỷ và cấp trên quản lý; những người là trí thức và văn nghệ sỹ có danh tiếng; những người có chức sắc trong tôn giáo; những vụ án đặc biệt, phức tạp về trật tự xã hội gây hậu quả nghiêm trọng, các vụ án được dư luận rộng rãi quan tâm thì Viện kiểm sát nhân dân và Toà án nhân dân cần báo cáo xin ý kiến của Ban Thường vụ hoặc Thường trực Thành uỷ theo Quy định của Bộ Chính trị, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ.

Điều 14: Đối với Ủy ban MTTQ và các đoàn thể nhân dân Thành phố:

Thành uỷ lãnh đạo chỉ đạo Ủy ban MTTQ và các đoàn thể nhân dân bằng Nghị quyết thông qua cấp uỷ cơ sở và cán bộ đảng viên được quản lý, bố trí, phân công trong các tổ chức đó.

- Ban Thường vụ, Thường trực Thành uỷ có chế độ làm việc với cấp uỷ, lãnh đạo MTTQ và các đoàn thể. Thông qua các buổi giao ban, làm việc nghe báo cáo tình hình công tác vận động quần chúng và hoạt động của MTTQ và các đoàn thể để có sự chỉ đạo kịp thời, sâu sát.

- Ban Chấp hành, Ban Thường vụ và Thường trực Thành uỷ xem xét và quyết định việc bố trí, phân công cán bộ của MTTQ và các đoàn thể nhân dân ở Thành phố theo phân cấp của cấp trên và theo quy chế làm việc của Thành uỷ.

Điều 15: Đối với các cơ quan Đảng của Thành uỷ:

Các Ban, cơ quan của Thành uỷ bao gồm các Ban xây dựng Đảng, Văn phòng Thành uỷ và Trung tâm Bồi dưỡng chính trị Thành phố.

1- Các Ban, cơ quan của Thành uỷ có chức năng, nhiệm vụ nghiên cứu, tham mưu giúp Thành uỷ, Ban Thường vụ Thành uỷ đề xuất kiểm tra, tổ chức thực hiện và tổng kết các nghiệp vụ chuyên môn theo quy định hoặc nhiệm vụ do Thành uỷ, Ban Thường vụ thành uỷ giao. Giúp Thành uỷ chỉ đạo về các mặt nghiệp vụ công tác xây dựng Đảng và các công việc chuyên môn của cơ quan.

2- Các Ban, cơ quan của Thành uỷ có trách nhiệm tham gia việc chuẩn bị các báo cáo, đề án của Thành uỷ, đề xuất ý kiến tham mưu giúp Ban Chấp hành, Ban Thường vụ  hoặc Thường trực quyết định thông qua.

3- Các Ban, cơ quan của Thành uỷ có trách nhiệm hướng dẫn, triển khai thực hiện các nghị quyết của Ban Chấp hành, Ban Thường vụ và hướng dẫn của ngành cấp trên. Ban Tổ chức Thành uỷ được Ban Thường vụ Thành uỷ uỷ nhiệm ký tiếp nhận và giới thiệu sinh hoạt Đảng theo quy định.

4- Thường trực Thành uỷ định kỳ nghe báo cáo tình hình và cho ý kiến về hoạt động của các Ban, cơ quan của Thành uỷ và kiểm tra thực hiện các nhiệm vụ về công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ Thành phố.

- Các Ban, cơ quan của Thành uỷ giải quyết công việc thuộc nghiệp vụ chuyên môn theo quy định của cấp trên, Thủ trưởng hoặc đồng chí được phân công Phụ trách cơ quan phải chịu trách nhiệm trước Thành uỷ và cơ quan cấp trên về việc giải quyết các nghiệp vụ chuyên môn theo quy định.

- Các Ban, cơ quan của Thành uỷ thực hiện nghiêm chỉnh Quy chế làm việc của Thành ủy và xây dựng Quy chế làm việc của từng Ban, cơ quan để thực hiện.

Điều 16: Đối với các tổ chức cơ sở Đảng:

- Cấp uỷ của các tổ chức cơ sở Đảng trực thuộc Thành uỷ có trách nhiệm quán triệt, cụ thể hoá các Nghị quyết, Chỉ thị của Trung ương, Tỉnh uỷ và của Thành uỷ, hướng dẫn của các Ban, cơ quan của Thành uỷ để tổ chức thực hiện ở chi bộ, đảng bộ. Chấp hành nghiêm chỉnh chế độ thông tin báo cáo tình hình hoạt động của tổ chức cơ sở Đảng với Thành uỷ.

- Các cấp uỷ cơ sở phải xây dựng Quy chế làm việc và thực hiện nghiêm chỉnh Quy chế làm việc của Thành uỷ và Quy chế làm việc của cấp uỷ cơ sở.

CHƯƠNG IV. CHẾ ĐỘ LÀM VIỆC VÀ PHƯƠNG PHÁP CÔNG TÁC.

Điều 17: Chế độ hội nghị và ra quyết định:

1- Quy định các kỳ họp:

- Họp Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố (Thành uỷ), do Ban Thường vụ Thành uỷ triệu tập thường lệ 3 tháng 1 lần và triệu tập bất thường khi cần thiết, mỗi kỳ họp bàn một số nội dung do Ban Thường vụ Thành uỷ chuẩn bị. Thời gian từ 1 đến 2 ngày.

- Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố mở rộng đến các cấp uỷ cơ sở, các ban, ngành, đoàn thể… do Ban Thường vụ Thành uỷ xem xét quyết định.

- Ban Thường vụ Thành uỷ họp mỗi tháng 1 kỳ do Thường trực Thành uỷ hoặc Bí thư Thành uỷ quyết định triệu tập. Khi cần triệu tập họp bất thường. Thời gian mỗi kỳ họp Ban Thường vụ không quá 1 ngày. Trong phiên họp Ban Thường vụ tuỳ theo nội dung có thể mời các đồng chí Thành uỷ viên, thủ trưởng các ban, ngành, đoàn thể có liên quan tới dự.

- Thường trực Thành uỷ họp giao ban vào chiều thứ sáu hàng tuần, họp Thường trực Thành uỷ, HĐND, UBND mỗi tháng 1 lần, họp bất thường do đồng chí Bí thư Thành uỷ quyết định, nếu trùng vào ngày lễ, ngày nghỉ hoặc cần phải thay đổi thời gian sẽ có thông báo cụ thể.

- Thường trực Thành uỷ thực hiện chế độ giao ban 2 tháng 1 lần với các Ban, cơ quan thuộc Thành uỷ, MTTQ và các đoàn thể nhân dân Thành phố. Giao ban khối nội chính và Bí thư Đảng uỷ xã, phường khi cần thiết.

2- Chuẩn bị hội nghị:

- Căn cứ vào chương trình công tác của Thành uỷ, của Ban Thường vụ và tình hình thực tiễn của Thành phố. Ban Thường vụ và Thường trực Thành uỷ xem xét các vấn đề cần thiết đưa ra thảo luận và quyết định trong hội nghị Thành uỷ và Ban Thường vụ Thành uỷ. Những vấn đề cần đưa ra hội nghị thảo luận, quyết định thuộc nội dung của các cơ quan khối Đảng, đoàn thể thông qua Thường trực Thành uỷ, các cơ quan khối chính quyền thông qua UBND Thành phố trước khi trình Thành uỷ, Ban Thường vụ Thành uỷ xem xét quyết định. Các nội dung của hội nghị phải được chuẩn bị bằng văn bản (cả bản đầy đủ và bản tóm tắt) và gửi trước 02 ngày cho các đồng chí thuộc thành phần dự hội nghị để nghiên cứu chuẩn bị ý kiến phát biểu, thảo luận.

3- Việc ra nghị quyết, quyết định:

- Tại hội nghị nói chung không trình bày nguyên văn các văn bản đã gửi. Đồng chí chủ trì, chỉ đạo các đơn vị trình bày nội dung chính của báo cáo và những ý kiến còn khác nhau, nêu trọng tâm để thảo luận quyết định. Đồng chí chủ trì hội nghị kết luận thông qua.

- Căn cứ kết luận các ban, ngành, các cơ quan chuyên môn chuẩn bị nội dung cho hội nghị tiếp thu ý kiến hoàn chỉnh văn bản thông qua đồng chí Thường vụ phụ trách khối hoặc phụ trách đơn vị sau đó gửi về Văn phòng Thành uỷ, thời gian hoàn thành chậm nhất không quá 05 ngày sau khi hội nghị kết thúc. Văn phòng Thành uỷ có trách nhiệm bổ sung, chỉnh sửa theo kết luận tại hội nghị để trình đồng chí Bí thư hoặc Phó bí thư thường trực Thành uỷ duyệt trước khi phát hành. Các tài liệu phát hành phải được vào sổ theo dõi và lưu trữ tại Văn phòng Thành uỷ theo quy định và bảo đảm chế độ bảo mật.

Điều 18: Tổ chức thực hiện và kiểm tra thực hiện Nghị quyết:

- Ban Thường vụ, Thường trực Thành uỷ chỉ đạo việc tổ chức thực hiện và kiểm tra, giám sát thực hiện Nghị quyết của Thành uỷ và Ban Thường vụ. Các Ban, cơ quan của Thành uỷ, trước hết là Ủy ban kiểm tra Thành uỷ xây dựng kế hoạch giúp cấp uỷ theo dõi, kiểm tra các tổ chức Đảng và đảng viên (kể cả Thành uỷ viên) trong việc thực hiện Nghị quyết. Những Nghị quyết, Chỉ thị quan trọng của Trung ương, Tỉnh uỷ và Thành uỷ cần tiến hành sơ kết, tổng kết để rút kinh nghiệm, bổ khuyết kịp thời.

- Các tổ chức Đảng, các phòng, ban, ngành, đoàn thể Thành phố, các đồng chí cấp uỷ, các cán bộ đảng viên trong Đảng bộ Thành phố chịu trách nhiệm thực hiện nghiêm chỉnh và có hiệu quả các Nghị quyết, Kết luận đã đề ra. Cá nhân hoặc tổ chức không thực hiện hoặc thực hiện không đúng đều phải xem xét, xử lý theo kỷ luật của Đảng. Thực hiện nghiêm kỷ luật phát ngôn và đảm bảo giữ bí mật của Đảng.

- Thực hiện nghiêm chỉnh các Nghị quyết, kết luận kiểm tra và kết luận  các hội nghị. Trong quá trình thực hiện có khó khăn phải báo cáo kịp thời với Thường trực, Ban Thường vụ Thành uỷ.

Điều 19: Chế độ thông tin báo cáo:

- Ban Thường vụ, Thường trực Thành uỷ có kế hoạch thông tin, thông báo kịp thời những vấn đề cần thiết đến các đồng chí Thành uỷ viên, các cấp uỷ cơ sở, cán bộ, đảng viên trong Đảng bộ theo tình hình và yêu cầu cụ thể.

- Các đồng chí cán bộ thuộc diện Ban Thường vụ Thành uỷ quản lý khi đi ra ngoài địa bàn Tỉnh trong ngày làm việc phải báo cáo và được sự đồng ý của Ban Thường vụ Thành uỷ (qua Thường trực Thành uỷ).

- Các đồng chí Thành uỷ viên, các cấp uỷ cơ sở, các ban, ngành, đoàn thể có trách nhiệm báo cáo kịp thời đầy đủ, trung thực tình hình và kết quả công tác tháng, quý, năm và đột xuất với Ban Thường vụ, Thường trực Thành uỷ.

- Văn phòng Thành uỷ giúp Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố, Ban Thường vụ, Thường trực Thành uỷ theo dõi, đôn đốc các nội dung báo cáo theo quy định và tổng hợp báo cáo tình hình của Đảng bộ Thành phố lên cấp trên theo định kỳ.

Điều 20: Chế độ học tập, rèn luyện:

Mỗi đồng chí Thành uỷ viên và cán bộ, đảng viên cần nêu cao tinh thần tự học tập, rèn luyện để nâng cao trình độ nhận thức, năng lực công tác và sức khoẻ để phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Thành uỷ có trách nhiệm tạo điều kiện giúp đỡ các đồng chí Thành uỷ viên và cán bộ, đảng viên thực hiện kế hoạch học tập, rèn luyện.

Thành uỷ giao cho Ban Tổ chức Thành uỷ phối hợp với các phòng, ban chuyên môn giúp cấp uỷ theo dõi, lập kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, đảng viên.

Điều 21: Chế độ tự phê bình và phê bình:

Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố, Ban Thường vụ Thành uỷ, các đồng chí Thành uỷ viên, các đồng chí cán bộ, đảng viên và các cấp uỷ cơ sở cần thực hiện nghiêm túc chế độ tự phê bình và phê bình trong Đảng. Duy trì chế độ tự phê bình và phê bình, nhận xét cán bộ hàng năm. Cần nêu cao tinh thần tự giác, thẳng thắn, trung thực, đoàn kết, xây dựng trong đấu tranh tự phê bình và phê bình. Hàng năm các đồng chí Thành uỷ viên và cán bộ thuộc diện Ban Thường vụ Thành uỷ quản lý tiến hành tự kiểm điểm, nhận xét, đánh giá ưu khuyết điểm và đề ra phương hướng phấn đấu. Các bản tự kiểm điểm, nhận xét gửi về Ban Tổ chức Thành uỷ để lưu hồ sơ cán bộ.

          Điều 22: Chế độ đi cơ sở, tiếp xúc với quần chúng và cán bộ cấp dưới.

Các đồng chí Thành uỷ viên có chế độ thường xuyên đi cơ sở và tiếp xúc với cán bộ, đảng viên và nhân dân để nắm thực tế cơ sở, tìm hiểu tâm tư cán bộ, đảng viên và nhân dân, qua đó góp ý kiến với Thành uỷ, Ban Thường vụ Thành uỷ và cấp trên những vấn đề cần xem xét, giải quyết, phát huy trách nhiệm xây dựng Đảng của nhân dân.

CHƯƠNG V. ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH.

Điều 23: Các đồng chí Thành uỷ viên, các cấp uỷ cơ sở trực thuộc, cán bộ các ban ngành, đoàn thể của Thành phố có trách nhiệm thực hiện nghiêm chỉnh Quy chế này.

Điều 24: Văn phòng Thành uỷ và các Ban xây dựng Đảng giúp Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố, Ban Thường vụ Thành uỷ đôn đốc, kiểm tra thực hiện Quy chế và thường xuyên báo cáo với Ban Thường vụ Thành uỷ tình hình thực hiện.

Điều 25: Trong quá trình thực hiện nếu có những vấn đề mới phát sinh cần phải bổ sung, sửa đổi Quy chế làm việc của Ban Chấp hành do hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố xem xét, quyết định.

Quy chế đã được Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố khoá XXI thông qua ngày 20 tháng 8 năm 2015.

 

BCH ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ BẮC NINH

 

Nguồn: Văn phòng Thành ủy